CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT CỦA ĐỘNG KINH
Lê Văn Tuấn[1],
Lê Minh[1]
Chẩn đoán động kinh gồm có hai bước (1) chẩn
đoán xác định động kinh và phân biệt với các tình huống gây cơn giống động kinh
nhưng không phải là động kinh, và (2) chẩn đoán phân biệt các thể cơn và các
loại hội chứng động kinh. Chẩn đoán động kinh không phải là một việc làm dễ dàng
và không ít bệnh nhân đã bị chẩn đoán nhầm, hoặc họ bị động kinh nhưng không
được chẩn đoán là động kinh nên không được điều trị phù hợp, hoặc bị chẩn đoán
nhầm là động kinh trong khi bệnh nhân thật sự chỉ có những biểu lộ của một rối
loạn thần kinh chức năng như hội chứng tăng thông khí. Theo số liệu dẫn chứng và
minh hoạ của y văn, có thể thấy sự chẩn đoán nhầm liên quan động kinh cũng đáng
kể: 20% các bệnh nhân nội trú của một bệnh viện tâm thần bị chẩn đoán nhầm là có
động kinh;3 nghiên cứu về động kinh trong 15 năm tại một đơn vị nội khoa tâm
thần đã cho thấy 15 đến 20% các trường hợp bệnh nhân tâm thần được điều trị
trong đơn vị này bị chẩn đoán nhầm là động kinh, bên cạnh đó lại có những bệnh
nhân vừa bị những cơn có giật tâm lý vừa có lúc bị cơn động kinh thật xen kẽ
khiến chẩn đoán càng thêm khó khăn.7 Thuật ngữ đã được dùng để mô tả những “cơn
tâm lý” này rất là phong phú và gồm có cơn hystêri, cơn giả co giật, cơn co
giật tâm lý, cơn giả đò, rối loạn cơ thể hoá.
Bên cạnh những rối loạn kịch phát có cơ chế tâm
lý vừa nêu ở trên, còn có những một số tình huống bệnh lý khác, như những sự cố
về tim mạch, sự cố về hô hấp, rối loạn chuyển hoá, rối loạn vận động và rối loạn
hành vi, vốn có thể đưa đến những triệu chứng xuất hiện tái đi tái lại dễ gây
nhầm lẫn với động kinh.9
Thời gian mất đi từ khi phát cơn động kinh đầu
tiên cho đến khi xác định được chẩn đoán động kinh cũng lắm khi kéo dài nhiều
tháng hay năm: hơn 50% các truờng hợp chẩn đoán động kinh đã chỉ được xác định
chẩn đoán này sau khi bệnh đã diễn tiến hơn 6 tháng, và khoảng 30% các trường
hợp đã chỉ được chẩn đoán xác định sau 2 năm diễn tiến.3
Các nhận định nêu trên về những nhầm lẫn và
chậm trễ có thể gặp cho thấy nổi bật lên bài toán là việc chẩn đoán động kinh
cần được tiến hành sao cho chính xác và kịp thời để bệnh nhân động kinh thì được
điều trị động kinh sớm và hiệu quả, và để cho bệnh nhân không bị động kinh thì
không phải chịu đựng những tác dụng phụ của thuốc chống động kinh cũng như những
phí tổn do sự điều trị chống động kinh lâu dài gây ra. Cho đến nay, để đạt dược
mục đích này, người ta vẫn phải trước hết dựa trên các biểu lộ lâm sàng của động
kinh để thiết lập chẩn đoán. Việc chứng kiến trực tiếp cơn đang xảy ra hay nhìn
thấy cơn trên băng video theo dõi do đó có vai trò rất quyết định trong chẩn
đoán. Trong trường hợp không được nhìn thấy cơn một cách trực tiếp, có thể dựa
trên sự tường thuật lại cơn của các nhân chứng, mặc dù độ tin cậy của dữ liệu
thuộc nguồn này thấp hơn những gì có được nhờ chứng kiến trực tiếp cơn. Một vài
đặc điểm của các cơn động kinh được xem là chìa khoá để chẩn đoán xác định và
chẩn đoán phân biệt cơn động kinh: cơn động kinh không bị ảnh hưởng chí phối của
ý chí hay ý muốn, không thể làm chậm lại hay làm nhanh sự xuất hiện cơn, cơn
mang tính chất kịch phát và tái đi tái lại, bệnh nhân không có trí nhớ về giai
đoạn trong cơn (đối với các cơn có mất ý thức như cơ co cứng-co giật toàn thể,
cơn cục bộ phức tạp, cơn cục bộ toàn thể hoá thứ phát), cơn động kinh thường đáp
ứng rất tốt với thuốc chống động kinh.3,7,10
TIẾP CẬN CHẨN ĐOÁN
ĐỘNG KINH10
Tiếp cận chẩn đoán động kinh bao gồm các bước
sau đây.
Hỏi bệnh sử chi tiết về cơn (hay các cơn) đã có
mà người cung cấp có thể chính là bệnh nhân,
hỏi tiền sử về các bệnh nội khoa và ngoại khoa, hỏi tiền sử gia đình, và hỏi về
các loại điều trị mà bệnh nhân đã được sử dụng trước đó.
Khám thực thể mà qua đó có thể phát hiện những
bất thường vốn hoặc là liên quan với bệnh
đã gây ra động kinh, hoặc là hệ quả của các cơn động kinh, hoặc là hệ quả của
tác dụng phụ của liệu pháp chống động kinh.
Thăm dò cận lâm sàng để giúp xác định chẩn đoán
và phân loại động kinh. Những thăm dò
cần thiết này gồm có điện não ký trong cơn và ngoài cơn, CT và/hoặc MRI, theo
dõi video hay video-EEG khi có điều kiện, test tâm lý thần kinh học và các xét
nghiệm cần thiết khác khác tuỳ theo nguyên nhân bị nghi ngờ có liên quan với
động kinh.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
CỦA ĐỘNG KINH
Các cơn không phải động kinh, nhưng có thể gây
chẩn đoán nhầm với động kinh, có thể được gặp trong nhiều nhóm bệnh khác nhau và
gồm có cơn ngất, cơ thoáng thiếu máu não, cơn mất trí nhớ toàn bộ thoáng qua,
cơn migraine, cơn mất trương lực cơ của hội chứng ngủ kịch phát, cơn tăng áp lực
nội sọ cấp tính, các rối loạn kịch phát của giấc ngủ, cơn chóng mặt của tổn
thương tiền đình, chứng tăng giật mình di truyền, cơn co cứng của bệnh xơ cứng
rải rác, các rối loạn nhịp tim nhất thời, cơn ngủ ngắn ban ngày, cơn hạ đường
huyết, các rối loạn vận động bất thường, cơn ngã gục, cơn ảo giác và hoang tưởng
của bệnh tâm thần, cơn đi hoang của rối loạn tâm thần, cơn hoảng sợ và cơn tăng
thông khí. Các rối loạn kịch phát tái đi tái lại này có thể có những điểm tương
đồng với một trong ba loại cơn động kinh gồm cơn động kinh cục bộ đơn giản, cơn
động kinh cục bộ phức tạp và cơn động kinh co cứng-co giật toàn thể hoá.
Chẩn đoán phân biệt
của cơn cục bộ đơn giản
Cơn động kinh cục bộ đơn giản có thể cho biểu
lộ cảm giác, vận động, giác quan (xin xem bài về phân loại động kinh) do đó có
thể bị nhầm với một số các hiện tượng lâm sàng khác vốn cũng mang tính nhất
thời, thoáng qua.
Migraine là một loại rối loạn mang tính chất
tái đi tái lại, có thể cho triệu chứng thị giác như
ám điểm có chớp sáng, mất một phần thị trường. Triệu chứng nổi bật của migraine
là chứng đau đầu dữ dội, thường ở nửa đầu một bên.11
Cơn thoáng thiếu máu não có thể cho triệu chứng
cảm giác cục bộ xuất hiện kịch phát, tái đi
tái lại. Tuy nhiên triệu chứng cảm giác của cơn thiếu máu não thoáng qua khác
biệt với triệu chứng cảm giác của động kinh cục bộ ở chỗ là triệu chứng âm tính
(giảm hay mất cảm giác) trong khi triệu chứng cảm giác của động kinh là triệu
chứng dương tính (cảm giác kim châm), và triệu chứng của thiếu máu não thường
không có kiểu lan Bravais-Jackson.10
Cơn tăng thông khí 8,10 rất hay thường gặp, đặc
biệt là ở người trẻ (thường hay là nữ), dưới
hình thức những cơn tê kiểu kim châm ở ngọn chi và xung quanh môi miệng kéo dài
nhiều chục phút. Đặc điểm nhận dạng của cơn tăng thông khí là triệu chứng phân
bố hai bên thân thể và thoái lui khi người bệnh áp dụng cách thở vào trong một
túi nylông. Cơn tăng thông khí thường là một thành phần của bệnh cảnh lâm sàng
của các rối loạn lo âu nên bệnh nhân có thể còn những biểu lộ khác như hồi hộp,
đau nặng ngực, toát mồ hôi, buồn nôn hay đau quặn bụng v.v…
Các rối loạn vận động5,9,10 như tic và co thắt
nửa mặt cũng mang tính chất cục bộ nhưng hiện
diện thường trực, không mang tính chất từng hồi tái đi tái lại như động kinh.
Loại tic dễ gây nhầm lẫn với cơn động kinh cục bộ đơn giản là các tic vận động
đơn giản trong đó có những cử động giống như giật cơ hoặc giống như cử động múa
bất thường.
Chẩn đoán phân biệt
cơn cục bộ phức tạp
Cơn động kinh cục bộ phức tạp luôn luôn có kèm
triệu chứng mất ý thức gọi là giả vắng ý thức (pseudo-absence). Triệu chứng
mất ý thức này có thể chỉ biểu lộ dưới hình thức ngã gục bất chợt đơn thuần
hay ngược lại có những triệu chứng tự động phức tạp kèm theo. Có thể có chẩn
đoán nhầm giữa cơn động kinh cục bộ phức táp với một số tình huống bệnh khác
được trình bày tiếp theo sau đây.
Các rối loạn giấc ngủ 1,4 gồm có cơn ác mộng về
đêm, miên hành, đái dầm, cơn ngưng thở
lúc ngủ, chứng nghiến răng, chứng nghe tiếng nổ lớn trong đầu lúc ngủ, và các cử
động chu kỳ của giấc ngủ. Chứng miên hành thường chỉ xuất hiện ở trẻ em, cơn có
những đặc điểm sau: kéo dài nhiều giờ, trẻ có thể được đánh thức và thoát ra
khỏi cơn, trẻ hoàn toàn không nhớ gì về sự cố xảy ra trong cơn. Cơn cục bộ phức
tạp thì có đặc điểm trái ngược, cơn ngắn hơn nhiều, không “đánh thức” được trẻ
trong cơn, và hiếm khi trẻ rời bỏ giường để đi trong cơn. Các cử động chu
kỳtrong giấc ngủ thường chỉ xuất hiện ở hai chân vào bất kỳ lúc nào của giấc ngủ
và mang tính chất rập khuôn.
Cơn co giật tâm lý 7 hay cơn giả co giật thường
dễ bị chẩn đoán nhầm vời cơn động kinh cục
bộ phức tạp. Để nhận dạng được cơn này cần cần có sự thăm khám thần kinh kỹ
lưỡng kết hợp với theo dõi từ xa bằng video. Trong cơn giả co giật, bệnh nhân
thường có thể còn có ý thức hay còn đáp ứng đối với kích thích ngoại lai.
Mất trí nhớ toàn bộ thoáng qua 6 là tình trạng
trong đó bệnh nhân, thường thuộc lứa tuổi
trung niền và tuổi già, bỗng nhiên bị một giai đoạn mất hoàn toàn trí nhớ kiểu
thuận chiều kéo dài nhiều giờ hay vài ngày. Trong giai đoạn này bệnh nhân vẫn
hoàn toàn tỉnh táo, vẫn nhận thức được về bản thân nhưng lại bị mất khả năng
định hướng về không gian và thời gian nên hay đặt liên tục nhiều câu hỏi về
không gian và thời gian.
Cơn loạn thần 9 cũng là một tình huống dễ nhầm
lẫn với cơn động kinh cục bộ phức tạp, nhất
là khi bệnh nhân lại có những bất thường EEG và những rối loạn ý thức tri giác.
Chẩn đoán phân biệt
của cơn co cứng-có giật và cơn mất trương lực
Cơn động kinh co cứng-co giật và cơn mất trương
lực có thể bị nhầm lẫn với một số rối loạn kịch phát như migraine thân nền, tai
biến mạch máu não, ngất, cơn giả co giật và cơn tăng thông khí.
Cơn ngất 2 là một chẩn đoán phân biệt quan
trọng của tất cả các cơn động kinh. Đặc điểm
lâm sàng của cơn ngất tuỳ thuộc vào nguyên nhân đã gây ra ngất, ngoài ra thì có
một số tính chất chung như choáng váng, cảm giác đầu nhẹ tênh, nhìn mờ, chân run
và loạng choạng, đổ mồ hôi. Cơn ngất có thể là lành tính nếu như nó là hệ quả
của của một phản xạ sinh lý về tim mạch, nhưng có thể mang ý nghĩa ác tính nếu
nó là biểu lộ lâm sàng của các loạn nhịp tim. Tỷ lệ tử vong trong vòng 2 năm
được ghi nhận bằng khoảng 40% ở quần thể những người bị ngất tái đi tái lại
nhiều lần, nhaá©t là khi họ có thêm một bệnh tim kèm theo. Việc phân biệt được
giữa cơn ngất với cơn động kinh do đó rất quan trọng, và lắm khi là một một việc
làm khó khăn.
Đột quỵ của bệnh mạch máu não trong những
trường hợp nặng cũng có thể cho tình trạng
mất ý thức nhưng luôn luôn có triệu chứng định vị thần kinh đi kèm và thường là
không phục hồi hoàn toàn như trong cơn động kinh.
Hội chứng ngủ kịch phát 1 là một chẩn đoán phân
biệt khác trong đó có các triệu chứng hiện
diện như yếu liệt và mất trương lực cơ đột ngột, ngủ gà nhiều, ảo giác lúc mới
rơi vào giấc ngủ, và liệt trong giấc ngủ. Khác với cơn co cứng-co giật và cơn
mất trương lực, bệnh nhân ngủ kịch phát được đánh thức dễ dàng trong cơn.
Migraine thần nền 11 , tên gọi cũ là migraine
Bickerstaff, là một thể đau đầu vận mạch đặc
biệt gây ảnh hưởng trên thân não, do đó ngoài aura và triệu chứng đau đầu, bệnh
nhân còn có những triệu chứng thân não như thất điều, chóng mặt, ù tai, dị cảm
hai bên thân thể, rối loạn nhận thức và ý thức.
Cơn tăng thông khí đã mô tả ở phần trước có thể
cũng bị chẩn đoán nhầm là cơn co cứng-co
giật của động kinh.
Một số rối loạn chuyển hoá như hạ đường huyết,
hạ calci huyết, rối loạn kali huyết, và rối
loạn magêsi huyết cũng có thể cho bệnh cảnh lâm sàng giống như cơn co cưng-co
giật. Đặc biệt nguy hiểmlà cơn hạ đường huyết, vốn thường gặp trong u tiết
insulin hay trong điêù trị bằng thuốc hạ đường huyết, vì có thể gây tổn thương
não toàn bộ và vĩnh viễn nếu như không được phát hiện và xử trí kịp thời.10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Aldrich M.S. (1999). Sleep Disorders. In Christopher G. Goetz and Eric J.
Pappert eds Textbook of Cinical Neurology. W.B. Saunders Company, Philadelphia,
p 1106 – 1122.
2.
Daroff R.B., Carlson M.D. (2001). Faintness, Syncope, Dizziness, and
Vertigo. In Eugene Braunwald, Anthony S. Fauci and als eds Harrison’s Principles
of Internal Medicine 15th edition. McGraw – Hill, p 111 – 118.
3.
Cockerell O.C., Shorvon S.D. (1996). Epilepsy. Current Concepts. Current
Medical Literature, London, p 14 – 18.
4.
Comella C.L., Walters A.S., Hening W.A. (1999). Sleep and Wakefulness. In
Christopher G. Goetz and Eric J. Pappert eds Textbook of Cinical Neurology. W.B.
Saunders Company, Philadelphia, p 17 – 29.
5.
Fahn S. (1999). Hypokinesia And Hyperkinesia. In Christopher G. Goetz and
Eric J. Pappert eds Textbook of Cinical Neurology. W.B. Saunders Company,
Philadelphia, p 267 – 284.
6.
Gabrieli J.D.E., Brewer J.B., Vaidya C.J. (1999). Memory. In Christopher
G. Goetz and Eric J. Pappert eds Textbook of Cinical Neurology. W.B. Saunders
Company, Philadelphia, p 56 – 69.
7.
Gumnit R.G. (1993). Psychogenic Seizures.
In Elaine Wyllie ed The
Treatment of Epilepsy: Principles and Practice. Lea & Febiger, Philadelphia, p
692 – 696.
8.
Greist J. H., Jefferson J.W. (2000). Anxiety Disorders. InHoward H.
Goldman ed Review of General Psychiatry. Lange Medical Books / McGraw – Hill,
Singapore, p 284 – 300.
9.
Pellock J.M. (1993). The Differential Diagnosis Of Epilepsy: Nonepileptic
Paroxysmal Disorders. In Elaine Wyllie ed The Treatment of Epilepsy: Principles
and Practice. Lea & Febiger, Philadelphia, p 697 – 706.
10.
Shorvon S.D. (2000). Precipitation, Causes and Differential Diagnosis of
Epilepsy. In Handbook of Epilepsy Treatment. Blackwell Science, Oxford, p 16 –
33.
Silberstein S.D., Lipton
R.B., Goadsby P.J. (1998). Migraine: Diagnosis and Treatment. In: Headache in
Clinical Practice. Isis Medical Media, Oxford, p 61 – 90.
|