NHỮNG TIẾN BỘ
TRONG ĐỘNG KINH HỌC TRẺ EM
Nguyễn Thanh Thủy
Trong những năm gần đây, những bước tiến rõ
rệt nhanh chóng trong sự hiểu biết cơ chế của bệnh động kinh (ĐK), cơ chế
của rối loạn nhận thức, sự nhận ra các hội chứng, những tiến bộ trong việc
sử dụng thuốc và sự ra đời của các phương thức trị liệu mới với các chỉ định
tương đối chọn lọc cho các loại động kinh, những tiến bộ trong kỹ thuật giải
phẫu đã dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong lãnh vực động kinh trẻ em.
SINH LÝ BỆNH VÀ CĂN
NGUYÊN
Sinh lý bệnh
Sinh lý bệnh học của động kinh có nhiều
khía cạnh phức tạp và còn dựa một phần trên một số giả thuyết. Nói chung
động kinh là do sự kích thích nơron quá mức hay do giảm ức che.á 13,19 Phần
lớn trường hợp có sự tăng hoạt động đồng thì của một số nơron có chức năng
nhất định. Trong các trường hợp khác, một nhóm nơron, không còn liên hệ với
mạng nơron bình thường, biểu lộ hoạt động tự phát và nhịp nhàng.
Căn nguyên
Có thể xếp thành 3 loại
Thương tổn vỏ não: Các thương tổn vỏ não
gây động kinh là rất đa dạng, không phải lúc
nào cũng phát hiện được nhờ cộng hưởng từ.
Bẩm chất di truyền: Đa số các động kinh
thường do đa tác nhân (multifactoriel) trong đó
có sự góp phần của các yếu tố môi trường. Tuy nhiên các động kinh vô căn
tương quan chặt chẽ với bẩm chất di truyền. Những thể gia đình di truyền đơn
giản đơn gien có kiểu di truyền Mendel. Trong các động kinh có kiểu hình di
truyền phức tạp đa gien không thể nhận biết các gien gây bệnh mà chỉ biết
được sự liên kết với nhiễm sắc thể. Các khám phá trong lãnh vực di truyền
phân tử làm sáng tỏ vai trò căn nguyên trong các hội chứng động kinh của các
đột biến gien mã hóa cho các kênh ion phụ thuộc vào điện thế hay chất dẫn
truyền thần kinh.
Cho đến nay ba gien đã được nhận biết trong
ba hội chứng động kinh di truyền theo tính trội (6,13,18) là gien của tiểu
đơn vị (4 và (2 của thụ thể nicotin trong động kinh thuỳ trán với các cơn
ban đêm (ADNFLE), gien mã hóa cho hai kênh K+ gây các cơn co giật sơ sinh
lành tính gia đình (BFNC), gien của tiểu đơn vị (1 và (1 của kênh Na+ phụ
thuộc vào điện thế trong động kinh toàn thể và co giật do sốt cao cộng
(GEFS+). Bảng 1 trình bày các locus gien của một số động kinh di truyền đã
biết đến ngày hôm nay.
Sự trưởng thành của não bộ: Hiện tượng
trưởng thành được đặc trưng bởi tính tăng kích
thích (hyperexcitabilité), sự thừa tạm thời của các sinap và các sợi trục
bên, sự myêlin hóa chưa đầy đủ. Sự trưởng thành xảy ra sớm nhất ở các vùng
phía sau, muộn nhất là thùy trán (khoảng 6 tháng-2 tuổi). Ở giai đoạn sau
sanh có sự mất thăng bằng thoáng qua trong sự trưởng thành giữa các đường
hoạt hóa và ức chế làm tăng tính kích thích, đưa tới trạng thái dễ bị co
giật. Ý nghĩa của hiện tượng này là:
Động kinh có biểu hiện triệu chứng và diễn
tiến đặc biệt khi xảy ra vào lúc khởi sự trưởng thành của não.
Các tổn thương gây động kinh có thể chỉ
biểu hiện khi vùng có tổn thương đó trở nên trưởng thành, tổn thương ở thùy
trán biểu hiện muộn hơn tổn thương ở thùy chẩm.
Nếu ổ động kinh ở vùng chức năng đang trong
thời kỳ phát triển, vùng này sẽ bị rối loạn nặng nề và kéo dài.
Ngược lại, sau giai đoạn trưởng thành nhanh
chóng, vào cuối thập niên đầu, khuynh hướng dễ bị động kinh giảm, bệnh sẽ
ngưng tự phát.25
Bảng 1. Động kinh và
di truyền
|
Hội chứng |
Liên kết |
Gien |
|
BFNC (Benign
familial neonatal convulsions)
Co giật lành
tính GĐ ở trẻ sơ sinh |
20q13 (Singh và
cộng sự 1998)
8q24 (Charlier
và cộng sự 1998) |
KCNQ2 (kênh K+)
KCNQ3 (kênh K+) |
|
BFIC (Benign
familial infantile convulsions)
Co giật lành
tính GĐ ở trẻ nhỏ |
19q (Guipponi và
cộng sự 1997)
|
|
|
ADNFLE
ĐK thùy trán về
đêm có tính GĐ DTTT |
20q13 (Phillips
và cộng sự 1995)
15q24 (Phillips
và cộng sự 1998)
1q (Fusco và
cộng sự 2000) |
CHRNA4
(thụ thể
nicotinique)
CHRNB2 |
|
AD partial
epilepsy with auditive hallucinations
ĐK cục bộ DTTT
với ảo giác thính giác |
10q (Ottman và
cộng sự 1995)
|
|
|
AD partial
epilepsy with variable foci
ĐK cục bộ DTTT
với các ổ khác nhau |
2 (Scheffer và
cộng sự 1998)
|
|
|
Co giật do sốt |
8q (FEB1)
(Wallace và cộng sự 1996)
19q (FEB2)
(Johnson và cộng sự 1998) |
|
|
“GEFS+”
“Co giật do sốt
cộng” |
2q (Lopes-Cendes
và cộng sự 1995)
19q (Wallace và
cộng sự 1998)
2q (Escayg và
cộng sự 2000) |
SCN1B (kênh Na+)
SCN1B (kênh Na+)
SCN1A (kênh Na+) |
|
ĐK cục bộ lành
tính ở trẻ em với gai nhọn vùng rolando. |
15q14 (Neubauer
và cộng sự 1998) |
|
|
Idiopathic
generalized epilepsy (IGE)
ĐK toàn thể vô
căn |
8q24 (Zara và
cộng sự 1995) |
|
|
IGE (Juvenile
myoclonic epilepsy JME)
ĐK giật cơ ở
thiếu niên. |
6p21 (EJM1)
(Sander và cộng sự 1997)
6p11 (Serratosa
và cộng sự 1996) |
|
|
IGE (khởi đầu ở
thanh niên không có JME) |
8p11-12 (Durner
và cộng sự 1999)
|
|
THAY ĐỔI TRONG PHÂN LOẠI
Các hội chứng động kinh di truyền theo tính
trội
Các cơn co giật co giật lành tính ở trẻ nhỏ
có tính gia đình (benign familial infantile convulsions (BFIC)24 di truyền
theo tính trội, khởi phát giữa 4 và 8 tháng tuổi ( trung bình 6 tháng tuổi)
với các cơn ngắn dưới 5 phút, xảy ra hàng loạt có thể đến 10 cơn kể cả lúc
thức và lúc ngủ trong 2-3 ngày liên tiếp. Cơn cục bộ, toàn thể hóa thứ phát.
EEG ngoài cơn bình thường.
Động kinh cục bộ với các ổ khác nhau di
truyền theo tính trội (autosomal dominant partial epilepsy with variable
foci).
Động kinh thùy trán ban đêm di truyền theo
tính trội (autosomal dominant nocturnal frontal lobe epilepsy)
(ADNFLE).
Động kinh thùy thái dương có tính gia đình
(familial temporal lobe epilepsy).
Động kinh toàn thể và các cơn co giật do
sốt cao cộng (Generalized epilepsy and febrile seizures plus: GEFS+) di
truyền theo tính trội với các cơn co giật do sốt phối hợp với các cơn co
giật không sốt (cơn co cứng co giật, vắng ý thức, giật cơ, mất trương lực,
giật cơ-mất trương lực).
Các hội chứng động kinh mới khác
Động kinh với cơn cục bộ di chuyển ở trẻ
nhũ nhi (Migrating partial seizures in infancy)4
được
mô tả lần đầu tiên vào năm 1995. Khởi đầu trước 6 tháng tuổi bởi các cơn co
giật cục bộ ngắn khoảng 1 đến vài phút với vị trí thay đổi tùy lúc, di
chuyển từ vùng này sang vùng khác ở một hay hai bán cầu. Các cơn rất đa
dạng, xảy ra thành từng đợt kéo dài nhiều ngày hay nhiều tháng, xen kẽ với
những giai đoạn ngưng cơn. Căn nguyên không rõ. Vidéo/EEG cho thấy rõ mối
liên hệ giữa vị trí của ổ cục bộ (đặc trưng bởi sóng théta nhịp nhàng) và
biểu hiện lâm sàng. Phát triển tâm thần vận động ngày càng suy thoái đi kèm
với giảm trương lực thân và tứ chi nặng. Điều trị duy nhất hiệu quả là
Benzodiazepine với liều rất cao.
Động kinh lành tính thùy chẩm ( chilhood
epilepsy with occipital spikes)15 được xếp vào
nhóm các đông kinh cục bộ lành tính. Khởi phát ở trẻ từ 2 đến 12 tuổi (trung
bình là 5 tuổi). Cơn xảy ra không thường xuyên với các biểu hiện hành vi và
thực vật, ói, hai mắt nhìn về một phía, kèm giảm hay mất ý thức kéo dài vài
phút đến vài giờ. Tiên lượng tốt, hồi phục trong vòng 1 đến 2 năm sau khi
khởi phát. Cần chẩn đoán phân biệt dạng lành tính này với dạng diễn tiến
không nhất định xảy ra ở trẻ 8 tuổi 11. Cơn xảy ra thường xuyên, kéo dài vài
giây đến 1-3 phút với các ảo giác thị giác. Tỷ lệ hồi phục chỉ trong
50-60% trường hợp.
ĐỘNG KINH VÀ RỐI LOẠN NHẬN THỨC
Các động kinh ở trẻ em có thể ảnh
hưởng trên khả năng trí tuệ.5,9,12 Tùy theo nguyên nhân
gây động kinh, loại động kinh và hội chứng, và định vị của ổ động kinh mà sẽ
gây các rối loạn đặc hiệu. Ngoài ra cũng phải kể đến sự góp phần của tác
dụng phụ của các thuốc chống động kinh và các yếu tố môi trường. Bệnh não do
ĐK là sự rối loạn chức năng của não do động kinh, gặp trong các hội chứng
động kinh khác nhau tùy theo tuổi của trẻ 10 và có thể do:
Các cơn động kinh tái đi tái lại rất thường
xuyên, nặng như trong bệnh động kinh giật cơ nặng ở trẻ nhũ nhi (severe
myoclonic epilepsy in infancy) trong đó trẻ bị co giật vào khoảng 2-10 tháng
tuổi với các tình trạng động kinh liên tục, và trong động kinh với các cơn
cục bộ di chuyển ở trẻ nhũ nhi khởi đầu trong vòng 6 tháng tuổi bởi các cơn
cục bộ hầu như liên tục ở các vùng khác nhau của vỏ não.
Hay do các bất thường kịch phát lan tỏa,
hầu như liên tục trên điện não đồ ngoài cơn có thể có hay không có kèm theo
các cơn co giật dẫn đến các rối loạn nặng về vận động, giác quan hay nhận
thức tùy theo định vị ưu thế của ổ kịch phát. Các ví dụ minh hoạ gồm có:
hội chứng động kinh ở trẻ sơ sinh với suppresssion-burst là hội chứng
Ohtahara và bệnh não giật cơ sớm; hội chứng West ở trẻ nhũ nhi; hội chứng
Lennox-Gastaut (5) ở trẻ em với các cơn toàn thể và gai nhọn-sóng chậm;
động kinh giật cơ-mất trương lực hay gai nhọn-sóng liên tục trong giấc
ngủ chậm (continuous spike-waves in slow sleep: CSWS) kết hợp với các dạng
tâm thần kinh khác nhau như hội chứng Landau Kleffner, hội chứng thùy trán,
rối loạn thực dụng vùng miệng mặt.(20,23
Điều trị sớm là điều kiện quan trọng để
ngăn ngừa sự trầm trọng của bệnh não do động kinh.
ĐIỀU TRỊ
Với sự hiểu biết rõ hơn về các cơ chế sinh
động kinh, việc sử dụng hiện nay các thuốc chống động kinh không còn đơn
thuần chỉ dựa trên kinh nghiệm như trước đây mà phải dựa trên sinh lý bệnh:
cơ chế tác động của các thuốc chống động kinh và dựa trên đặc điểm phân loại
cơn và hội chứng động kinh. Các thuốc chống động kinh tác động theo ba cơ
chế gồm (1) giảm tính kích thích thông qua ức chế hệ glutamat lực, (2) gia
tăng ức chế thông qua sự tăng hoạt tính của hệ GABA lực và (3) điều hoà sự
di chuyển ion Na+, Ca+ và K+ tại màng nơron. Bảng 2 trình bày cơ chế tác
động của một số thuốc chống động kinh.
Bảng 2. cơ chế tác
độbg của các thuốc chống động kinh
|
|
Kháng
Glutamate |
Tăng GABA |
Chẹn kênh Na |
Ưùc chế
Carbonic Anhydrase |
|
Topiramate |
+ |
+ |
+ |
+ |
|
Vigabatrin |
|
+
(ức chếGABA-T) |
|
|
|
Lamotrigine |
+
( phóng thích |
|
+ |
|
|
Oxcarbazepine |
+
( phóng thích |
|
+ |
|
|
Gabapentin |
+
( tổng hợp |
± |
±
ức chế gián tiếp |
|
|
Tiagabine |
|
+ |
|
|
|
Felbamate |
+ |
+ |
+ |
|
Chẩn đoán xác định loại hội chứng động
kinh, hay ít ra là loại cơn động kinh là cần thiết để có thể lựa chọn được
loại thuốc thích hợp. Vài ví dụ minh hoạ gồm có vigabatrin trong hội chứng
West triệu chứng, lamotrigine trong hội chứng Lennox-Gastaut.8 Ngoài ra, sai
lầm trong việc lựa chọn thuốc có thể làm bệnh nặng hơn.2,17 Động kinh kháng
trị cũng là một tình huống trong đó chỉ định thuốc điều trị lúc đầu là không
phù hợp do chẩn đoán sai hội chứng động kinh.2 Bảng 3 trình bày các loại
thuốc chống động kinh có tác dụng làm nặng cơn khi được sử dụng không sát
hợp.
Bảng 3. Các thuốc
chống động kinh và cơn nặng hơn do thuốc
|
Thuốc chống
động kinh |
Làm cơn động
kinh trở nặng |
|
Carbamazepine
Clonazepam
Lamotrigine
Phenobarbital
Phenytoine
Vigabatrin
Tiagabine
Gabapentin
|
Cơn vắng & cơn
giật cơ
Cơn co cứng toàn
thể
Cơn giật cơ
Cơn vắng
Cơn vắng
Cơn vắng & cơn
giật cơ
Cơn vắng & cơn
giật cơ
Cơn giật cơ |
CÁC THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH MỚI
Sự ra đời của các thuốc mới như vigabatrin,
lamotrigine, topiramate, oxcarbazepine, tiagabine, gabapentin, felbamate… đã
cho phép người ta có nhiều chọn lựa hơn trong điều trị động kinh. Việc điều
trị ngày càng trở nên hợp lý với thuốc đặc hiệu cho các hội chứng động
kinh.8,16.26,27 Các thuốc mới có các ưu điểm là có đặc tính dược động học
tốt, ít hay không tương tác với các thuốc khác, dung nhận tốt hơn (nhất là
về nhận thức). Vài thuốc có phổ tác dụng rộng (lamotrigine, topiramate),
nhưng không phải là những thuốc đầu tay được lựa chọn. Các thuốc mới này còn
cần được đánh giá rộng rãi hơn để xác định rõ hơn liều lượng, nguy cơ, dung
nhận về lâu dài, các chỉ định ở trẻ em.
Bảng 4. đặc điểm sử
dụng của các thuốc chống động kinh mới
|
|
Phổ tác dụng |
Chỉ định |
Tác dụng phụ |
Thận trọng
|
|
Vigabatrin |
ĐK cục bộ (cơn
cục bộ và toàn thể hóa thứ phát) |
- được thêm vào
ngay khi đơn trị liệu thất bại với các thuốc quy ước
- HC West |
Tăng cân |
Cẩn thận ở Bn có
tiền sử bị tâm thần . |
|
Lamotrigine |
ĐK cục bộ (cơn
cục bộ và toàn thể hóa thứ phát)
ĐK toàn thể |
- được thêm vào
ngay khi đơn trị liệu thất bại với các thuốc quy ước |
Phát ban ngoài
da
|
Dùng liều thấp
khi phối hợp với Valproate |
|
Topiramate |
ĐK cục bộ (cơn
cục bộ và toàn thể hóa thứ phát)
ĐK toàn thể |
- Điều trị thêm
vào
(adjunctive
therapy)
- HC
Lennox-Gastaut
|
|
Cẩn thận ở Bn có
tiền sử bị tâm thần và sỏi thận |
|
Oxcarbazepine |
ĐK cục bộ (cơn
cục bộ và toàn thể hóa thứ phát) |
Điều trị thêm
vào
(adjunctive
therapy)
Đơn trị như
thuốc đầu tay? |
Dị ứng da
Giảm Na máu |
Dung nhận tốt
hơn carbamazepine |
|
Tiagabine |
ĐK cục bộ (cơn
cục bộ và toàn thể hóa thứ phát) |
Điều trị thêm
vào
(adjunctive
therapy) |
|
Cẩn thận ở Bn có
rối loạn hành vi nặng, lo lắng hay trầm cảm |
|
Gabapentine |
ĐK cục bộ (cơn
cục bộ và toàn thể hóa thứ phát) |
- được thêm vào
ngay khi đơn trị liệu thất bại với các thuốc quy ước |
|
Cẩn thận ở Bn có
nhiều loại cơn bao gồm cơn vắng ý thức. |
|
Felbamate |
ĐK cục bộ (cơn
cục bộ và toàn thể hóa thứ phát)
ĐK toàn thể
triệu chứng |
HC
Lennox-Gastaut |
Nhức đầu, giảm
cân, suy tủy, suy gan |
Chỉ dùng ở BV.
Phải theo dõi sát huyết đồ và chức năng gan. |
Các thuốc chống động kinh mới có thể được sử
dụng đơn trị? Câu trả lời là có. Ngược lại, chúng không thể được sử dụng như
thuốc đầu tay, trừ trường hợp ngoại lệ. Thường được chỉ định trong điều trị các
động kinh khó kiểm soát bằng cách thêm vào với các thuốc kháng động kinh thông
thường (add-on therapy) và trong trường hợp hiệu quả, có thể được duy trì đơn
trị. Chỉ trong vài dạng động kinh, việc sử dụng đơn trị một trong các thuốc mới
này được đặt ra ngay từ đầu. Ví dụ: Vigabatrin trong hội chứng West.
3,12,26 Những dữ kiện đơn trị sử dụng 1 vài thuốc mới như thuốc đầu tay đã cho
thấy hiệu quả tương đương với các thuốc quy ước nhưng với dung nhận tốt
hơn. 1,21
Khái niệm về đa trị liệu hợp lý (rational
polytherapy).Một vài phối hợp điều trị với các thuốc chống động kinh mới có tác
động đặc hiệu chứng tỏ tính hiệu quả hơn hẳn nhờ tác dụng hiệp đồng đăïc biệt
trên hội chứng động kinh nào đó. Ví dụ: Phối hợp valproate-lamotrigine trong
động kinh giật cơ-mất trương lực, hội chứng Lennox-Gastaut; Stiripentol phối hợp
với valproate và clobazam trong động kinh giật cơ nặng ở trẻ nhũ nhi. 16
CÁC PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU KHÁC
Chế độ ăn sinh ceton (Ketogenic diet) được sử
dụng từ lâu và hiện nay đang được nghiên cứu sử dụng trong các động kinh đề
kháng thuốc.9,22
Kích thích thần kinh phế vị được chỉ định trong
các động kinh kháng thuốc, có thể được đề nghị ở trẻ dưới 3 tuổi khi không thể
phẫu thuật. Nói chung, chỉ định còn phải được xác định. 9
Phẫu thuật được xét đến khi động kinh không
được kiểm soát bằng điều trị nội (<20% các động kinh kháng thuốc ở trẻ em, đa
số là các động kinh cục bộ do thương tổn). 7 Điều trị phẫu thuật tận gốc gồm có
hai phương thức là cắt bỏ ổ tổn thương, phẫu thuật hemispherotomy để tách rời
liên hệ với vùng sinh động kinh. Để gián đoạn mối liên hệ của ổ động kinh với
các vùng khác của não bộ phậu thuật cắt thể chai (callosotomy) được sử dụng
trong các động kinh đa ổ hay toàn thể với các cơn thường xuyên gây té ngã. Phẫu
thuật transsection sous-pial cũng là một phương pháp khác được áp dụng tại các
vùng chức năng.14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Baulac M, Arzimanoglou A, Semah F, Cavalcanti D. (1997) Options
thérapeutiques offertes par les nouveaux médicaments antiépileptiques. Rev
Neurol, 153:121-33. Paris.
2.
Bednarek N, Motte J. (1999) Traitements et surveillance des épilepsies de
l’enfant. La Revue Du Praticien, 49:1526-31.
3.
Chiron C, Dumas C, Jambaque I, Mumford J, Dulac O. (1997). Randomized
trial comparing vigabatrin and hydrocortisone in infantile spasms due to
tuberous sclerosis. Epilepsy Res 26: 389-395.
4.
Coppola G, Plouin P, Chiron C, Robain O, Dulac O. (1995) Migrating
partial seizures in infancy; a malignant disorder with development arrest.
Epilepsia, 36:1017-24.
5.
Dulac O and Nguyen T. (1993) The Lennox-Gastaut Syndrome. Epilepsia,
34(Suppl.7):S7-S17.
6.
Dulac O, Bulteau C, Malafosse A et al. (1995). Génétique des épilepsies
de l’enfant. Arch.Pédiatr; 2:306-9.
7.
Dulac O, Delalande O, Pinard JM, Jalin C, Plouin P, Jambaqué I, Chiron C,
Cieuta C. (1996). Problèmes posés par la neurochirurgie de l’épilepsie de
l’enfant. Arch Pédiatr, 3:369-77.
8.
Dulac O, Kaminska A. (1997). Use of lamotrigine in Lennox-Gastaut and
related epilepsiey syndromes. J Child Neurol, 12 Suppl 1:S23-S28.
9.
Dulac O. (1999). Nouveautes dans les epilepsies de l’enfant. J Pédiatr
Puériculture, 12:431-2.
10.
Dulac O. (2001). Epileptic encephalopathy. Epilepsia, 42 Suppl 3:23-6.
11.
Gastaut H. (1992). Eùpilepsie bénigne de l’enfance avec paroxysmes
occipitaux. In : Roger J, Bureau M, Dravet C, Dreiffuss Fe, Perret A, Wolf P
(eds). Les Syndromes Eùpileptiques De L’enfant Et De L’adolescent, 2 E Edition,
Pp 201-17. John Libbey & Company Ltd. Paris.
12.
Jambaqué I, Chiron C, Dumas C, Mumford J, Dulac O. (2000) Mental and
behavioural outcome of infantile epilepsy treated by vigabatrin in tuberous
scsclerosis patients, Epilepsy Res 38: 151-160.
13.
McNamara James O. (1999). Vers une meilleure compréhension de la genèse
de l’épilepsie. Nature, 399 (suppl):A15-A22.
14.
Morell F, Whisler WW, Smith MC, Hoeppner TJ, de Toledo-Morell L,
Pierre-louis Sj, Kanner AM, Buelow Jm, Ristanovic R, Bergen D, et al. (1995)
Landau-Kleffner syndrome. Treatment with subpial intracortical transection.
Brain, 118:1529-46.
15.
Panayiotopoulos Chrysostomos P. (2000). Benign chilhood epileptic
syndromes with occipital spikes: new classification proposed by the
international league agaisnt epilepsy. Journal of Child Neurology, 15:548-52.
16.
Perez J, Chiron C, Musial C, Rey E, Blehaut H, d’Athis P, Vincent J,
Dulac O. (1999). Stiripentol: efficacy and tolerability in children with
epilepsy. Epilepsia, 40: 1618-26.
17.
Perruca E, Gram L, Avanzani G, Dulac O. (1998). Antiepileptic drugs as a
cause of worsening seizures. Epilepsia, 39:5-17.
18.
Piccard F. (2000). Epilepsie et génétique. La Lettre du Neurologue.
Numéro spécial – avril; 21-3.
19.
Repressa A. (1998). Mécanismes fondamentaux de l’épileptogenèse. In:
Michel Arthuis, Olivier Dulac, Gerard Ponsot, Nicole Pinsard, Josette Mancini
(eds). Neurologie Pédiatrique, Vol 15. 2e edition, pp 351-362. Flammarion.
Medecine-Sciences. Paris.
20.
Roulet Perez E, Davidoff V, Despland PA, Deonna T. (1993). Mental and
behavioural deterioration of chidren with epilepsy and CSWS: acquired epileptic
frontal syndrome. Dev Med Chid Neurol, 35: 661-74.
21.
Sachdeo RC, Reife RA, Lim P, et al. (1997). Topiramate monotherapy for
partial onset seizures. Epilepsia, 38:294-300.
22.
Schwartzkroin Philip A. (1999). Mechanisms underlying the anti-epileptic
efficacy of the ketogenic diet. Epilepsy research, 37:171-180.
23.
Veggiotti Pierangelo, Beccaria Francesca, Guerrini Renzo et al. (1999).
Continuous Spike- and-Wave activity during Slow-Wave Sleep: syndrome or EEG
pattern? Epilepsia, 40(11):1593-1601.
24.
Vigevano F, Sebastianelli R, Fusco L et al. (1994). Benign infantile
familial convulsions. In: Malafosse A, Genton P. Hirsch E, Marescaux C, Broglin
D, Bernasconi R (eds). In: Idiopathic Generalized Epilepsies: Clinical,
Experimental And Genetic Aspects, pp 7-18. John Libbey & Company Ltd. Paris
25.
Villeneuve N. (1999). Physiopathologie et étiologique des épilepsies de
l’enfant. La Revue Du Praticien, 49:1500-06.
26.
Villeuneuve N, Soufflet C, Plouin P, et al. (1998). Traitement des
spasmes infantiles par vigabatrin en premiere intention et en monotherapie: à
propos de 70 nourissons. Arch Pediatr, 5:731-8.
27.
Wheless James W, MD. (2000). Use of Topiramate in chilhood generalized
seizure disorders. Journal of child neurology, 15 Supp1 1: S7-11.
|