ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não
(TBMMN) là nhóm Bệnh chiếm tỷ lệ cao trong thực hành lâm sàng thần kinh,
Bệnh vừa mang tính cổ điển, thời sự đồng thời là một vấn đề cấp thiết của y
học đối với mọi quốc gia. Theo báo cáo của tiểu ban nghiên cứu TBMMN của
Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ tháng 1 năm 2001 ước tính ở Mỹ hàng năm có 700.000
người mắc TBMMN; 4,4 triệu người có di chứng chi phí hết 51 tỷ đô la Mỹ.
Ở Việt Nam trong 10 năm
(1981 - 1990) tại Khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai có 1.036 Bệnh nhân bị
TBMMN vào điều trị. Các công trình nghiên cứu về dịch tễ học tai biến mạch
máu não của các tác giã từ năm 1995 đến năm 2000 cho thấy tỷ lệ mắc hàng
năm ở Hà Nội là 104/100.000 dân; thành phố Hồ Chí Minh 400/100.000dân; Huế
106/100.000 dân và tỷ lệ tử vong do TBMMN tại 3 địa phương trên lần lượt là
17,6%; 30,7%; 28,8%.3
Tại Thái Lan (1985) Viện
- Trường Siriraj đã sử dụng thang điểm Siriraj trong chẩn đoán TBMMN.
Học Viện Quân y (1998)
Nguyễn Minh Hiện, Nguyên Xuân thản, ứng dụng chỉ số Siriraj trong chẩn đoán
nhồi máu não và chảy máu não.
Ở trường Đại học Y Hà
Nội (2000) Nguyễn Hoàng Hải đã ứng dụng thang điểm Siriraj trong chẩn đoán
nhồi máu não có kiểm chứng bằng CT. Scanner cho kết quả độ nhạy là 91,2%,
giá trị dự báo dương tính là 86,92%.
Tại Thái Nguyên có Vi
Quốc Hoàng cũng ứng dụng chỉ số Siriraj trong chẩn đoán TBMMN, nhưng chưa có
tác giã nào ứng dụng chỉ số Siriraj trong chẩn đoán TBMMN có kiểm chứng
bằng CT Scanner. Mặt khác vấn đề điện não đồ ứng dụng trong lâm sàng, đặc
biệt là theo dõi và tiên lượng Bệnh TBMMN chưa có tác giã nào đề cập tới.
Xuất phát từ thực tế và
lợi ích chung cho người Bệnh chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm các mục
tiêu sau.
1.
Nghiên
cứu đặc điểm lâm sàng, một số yếu tố nguy cơ ở Bệnh nhân tai biến mạch máu
não.
2.
Ứng
dụng chỉ số Siriraj trong chẩn đoán TBMMN có kiểm chứng bằng CT Scanner,
theo dõi tiên lượng Bệnh dựa vào ghi điện não đồ.
TỔNG QUAN
Định nghĩa tai biến
mạch máu não của Tổ chức Y tế Thế giới: Tai biến mạch
máu não là Bệnh xảy ra đột ngột với các thiếu sót thần kinh khu trú hơn là
lan toả, bệnh tồn tại trên 24 giờ hoặc tử vong trong 24 giờ. Các thăm khám
khác loại trừ nguyên nhân do chấn thương.4
Lâm sàng
Nhồi máu não: khởi phát
độ ngột liệt nửa người và hoặc rối loạn cảm giác nửa người, có thể đau đầu
nhẹ, không nôn, ý thức thường không rối loạn.
Chảy máu não: Bệnh xảy
ra đột ngột điển hình với tam chứng chảy máu: đau đầu dữ dội, nôn, rối loạn
ý thức, soi đáy mắt có phù gai thị. Ngoài ra kèm theo có liệt nửa người và
dấu hiệu màng não dương tính.
Thang điểm Siriraj trong
chẩn đoán đột quỵ (Siriraj stroke score - sss).9
(2,5 x Mức độ ý thức) +
(2 x nôn) + (2 x đau đầu) + (0,1 x HA tâm trương) - (3 x chỉ điểm x vữa) -
12.
Trong đó:
• Mức độ ý
thức:
- Tỉnh táo
: 0 điểm.
- Ngủ gà,
sững sờ : 1 điểm.
- Bán hôn
mê, hôn mê: 2 điểm.
•
Nôn 2 giờ từ
lúc khởi đầu:
-
Không : 0 điểm.
-
Có : 1 điểm.
• Đau đầu 2
giờ từ lúc khởi đầu:
-
Không: 0 điểm.
- Có
: 1 điểm.
• Chỉ điểm xơ
vữa:
- Không
có: 0 điểm.
- Có
: 1 điểm
Xác định
dấu chỉ điểm xơ vữa dựa vào:
- Tiền sử
đái tháo đường.
- Cơn đau
thắt ngực.
- Dấu khập
khiễng cách hồi.
+ Trong trường hợp không
có các dấu hiệu trên thì thang điểm Siriraj bằng 0.
+ Giá trị của thang điểm
Siriraj.
- Nếu
Siriraj < - 1 là NMN.
- Nếu
Siriraj > + 1 là CMN.
- Nếu
Siriraj (- 1) đến (+1) chẩn đoán không chắc chắn.
Vai trò của CT Scanner
trong chẩn đoán TBMMN10
Tỷ trọng của các cấu
trúc não được tính theo đơn vị Haunsfield (HU) là:
- Nước bằng 0.
- Không khí bằng - 1000
HU
- Xương đặc bằng +
1.700 HU.
- Chất trắng của não: 29
- 35 HU.
- Chất xám của não: 36 -
40 HU.
Dựa vào số đo của mô
lành, khi nhu mô não bị tổn thương sẽ thấy 3 loại cấu trúc sau:
- Tăng tỷ trọng là tỷ
trọng cao hơn mô lành.
- Đồng tỷ trọng là tỷ
trọng như mô lành.
- Giảm tỷ trọng là tỷ
trọng thấp hơn mô lành.
- Trong chảy máu não
hình ảnh CT Scanner cho thấy vùng tăng tỷ trọng đồng đều, sau 2 tuần tỷ
trọng giảm dần.
- Trong nhồi máu não
hình ảnh CT Scanner là giảm tỷ trọng ở khu vực tưới máu của một mạch máu.
Vai trò của điện não đồ
trong theo dõi tiên lượng bệnh
Điện não đồ là ghi các
hoạt động điện sinh học của tế bào não riêng biệt hay một tập hợp tế bào não
dẫn truyền trực tiếp hoặc giám tiếp qua vỏ não và da đầu. Hình ảnh điện não
ghi được bằng hệ thống máy phản ánh chức năng sinh lý, Bệnh lý của 1 vùng
bán cầu hoặc toàn bộ não liên quan đến các triệu chứng lâm sàng, bổ sung cho
chẩn đoán và theo dõi gọi là điện não đồ lâm sàng.
Sóng điện não sinh lý
-
Sóng Alpha
Ĩ) dạng hình sin là chủ yếu, tần số 8 - 12 KC/S xuất hiện khi nhắm mắt, tập
trung nhiều ờ vùng chẩm, gặp ở lứa tuổi từ 6 tuổi trở lên.
-
Sóng Bêta
Ĩ) dạng sóng không ổn định phân bố ở vùng trán, tần số sóng 18 - 25 CK/S,
sóng
liên
quan đến trạng thái hương phấn thần kinh, gặp ở những người lao động trí óc.
-
Sóng theta
hình cung hay hình thang tần số 4 - 7,5 CK/S, gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi.
-
Sóng Delta
dạng sóng hình chuông hoặc hình thang đa dạng, tần số 0,5 - 3,5 CK/S gặp ở
trẻ em dưới 3 tuổi.
Các sóng bệnh lý trong
tai biến mạch máu não
-
Nhồi máu
não: Sóng Alpha rối loạn, sóng Delta chậm đa dạng điện thế thấp cùng bên với
nhồi màu não, khu trú tùy theo khu vực tổn thương.
-
Chảy máu
não: Sóng Alpha rối loạn, sóng Delta lan tỏa 2 bên.
Yếu tố nguy cơ
-
Tăng
lipid máu: Là yếu tố nguy cơ quan trọng của xơ vữa mạch, khi có xơ vữa
thành mạch làm hẹp đường kính lòng mạch hậu quả gây nhồi máu não.
-
Tăng
huyết áp: Là một yếu tố nguy cơ hàng đầu trong tai biến mạch máu
não
-
Tăng
đường máu: Tăng đường máu có hiện tượng thoái hoá kính thành mạch
làm tăng trưởng các mảng xơ vữa mạch máu ở trong và ngoài sọ. Khi đái tháo
đường kết hợp với tăng huyết áp thì nguy cơ tai biến mạch máu não tăng gấp
nhiều lần.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 95 Bệnh nhân trong
đó 60 Bệnh nhân nhồi máu não, 35 Bệnh nhân chảy máu não vào điều trị tại
Khoa Thần kinh Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên từ tháng 4 năm 2001
đến hết tháng 11 năm 2002.
Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng phương
pháp nghiên cứu mô tả, tiến cứu bằng cách chọn mẫu có chủ đích.
Tiêu chuẩn chọn
bệnh nhân
Lâm sàng:
-
Dựa vào
định nghĩa TBMMN của Tổ chức Y tế Thế giới.
-
Hỏi Bệnh
tỉ mỉ phát hiện các triệu chứng khởi phát của TBMMN.
-
Thăm khám
thực thể theo các bước để phát hiện các dấu hiệu thần kinh khu trú.
Chọn những Bệnh nhân
có chỉ số Siriraj < - 1; Siriraj > +1:
-
Chỉ số
Siriraj < - 1 là nhồi máu não (NMN)
-
Chỉ số
Siriraj > + 1 là chảy máu não (CMN).
Điện não đồ:
-
Ghi điện
não đồ 2 lần (lúc vào viện và khi ra viện) cho 95 Bệnh nhân trong nhóm
nghiên cứu bằng máy NIHON KODEN tại khoa thăm dò chức năng của Bệnh viện Đa
khoa Trung ương Thái Nguyên trong điều kiện tiêu chuẩn (phòng máy yên tĩnh,
đủ nhiệt độ và ánh sáng).
-
Ghi 4
chương trình theo máy cài đặt sẵn, mỗi chương trình 30 giây.
-
Phân tích kết quả trên Bệnh nhân ghi điện não đồ.
Chụp CT Scanner cho 40 Bệnh nhân có chỉ số Siriraj < - 1 và 30 Bệnh nhân có
chỉ
số Siriraj > + 1.
Tiêu chuẩn chọn trên phim CT Scanner:
-
Tăng tỷ trọng từ 45 HU.
-
Giảm tỷ trọng dưới 25 HU.
Các thay đổi bất thường trên phim CT Scanner theo định khu cấp máu của động
mạch.
Xét nghiệm máu:
-
Định lượng đường máu lúc đói > 7 mmol/l.
-
Định lượng lipid máu:
Cholesterol: > 5,2mmol/l.
Triglycerid: > 1,7 mmol/l.
HDL - C: < 0,9 mmol/l.
LDL - C: > 4,0 mmol/l.
Chọn 1 trong 4 thành phần này thay đổi theo hướng bệnh lý là có thay đổi về
lipid máu.
Xác định huyết áp tăng dựa vào:
-
Có
tiểu sử tăng huyết áp.
-
Số
đo huyết áp: Huyết áp tối đa từ 145 mmHg và hoặc huyết áp tối thiểu từ 95
mmHg.
Tiêu chuẩn loại trừ
-
Những bệnh nhân TBMMN lần 2.
-
Những bệnh nhân có triệu chứng thần kinh khu trú nhưng không đúng với định
nghĩa TBMMN của Tổ chức Y tế Thế giới.
-
Những bệnh nhân có chỉ số Siriraj từ - 1 đến + 1.
-
Những bệnh nhân có tăng huyết áp, tăng đường máu do phản ứng.
-
Những bệnh nhân có thay đổi bất thường trên phim chụp CT Scanner không thuộc
khu vực cấp máu của động mạch.
Xử lý số liệu bằng
thuật toán thống kê y học
KẾT QUẢ
Qua nghiên cứu 95 Bệnh nhân chúng tôi thu được các kết quả sau:
Bảng 1. Tuổi và giới
|
Tuổi |
Nam |
Nữ |
Cộng |
Tỷ lệ |
|
35-45 |
2 |
1 |
3 |
3,15 |
|
46-55 |
23 |
9 |
32 |
33,68 |
|
56-65 |
40 |
15 |
55 |
57,89 |
|
66-75 |
4 |
1 |
5 |
5,26 |
|
Cộng |
69 |
26 |
95 |
100 |
*
Tỷ Nam/Nữ ~ 2,6.
Bảng 2. Ứng dụng chỉ
số Siriraj trong chẩn đoán
|
Siriraj |
Số bệnh nhân |
Tỷ lệ |
|
< - 1 |
60 |
63,15 |
|
> + 1 |
35 |
36,85 |
|
Cộng |
95 |
100 |
- Siriraj < - 1: NMN;
- Siriraj > +1: CMN
Bảng 3. Triệu chứng khởi phát của 60 Bệnh
nhân có chỉ số Siriraj <-1
|
Các triệu chứng |
Số BN |
Tỷ lệ % |
|
Liệt nửa người |
45 |
75 |
|
Tê nửa người |
5 |
8,33 |
|
Choáng váng |
5 |
8,33 |
|
Đau đầu nhẹ + nôn |
5 |
8,33 |
|
Cộng |
60 |
100 |
Bảng 4. Triệu chứng khởi phát của 35 Bệnh
nhân có chỉ số Siriraj > +1
|
Các triệu chứng |
Số BN |
Tỷ lệ % |
|
Đau đầu dữ dội |
20 |
57,14 |
|
Đau đầu + nôn |
10 |
28,57 |
|
Đau đầu + RLYT |
5 |
14,28 |
|
Cộng |
35 |
100 |
(RLYT: Rối loạn ý
thức)
Bảng 5. Lâm sàng thời kỳ toàn phát của 60
Bệnh nhân có chỉ số Siriraj < - 1
|
Lâm sàng |
Số BN |
Tỷ lệ |
|
Liệt nửa người +
RLCG |
30 |
50% |
|
Liệt nửa người +
thất ngôn |
13 |
21,66% |
|
Liệt nửa người |
17 |
28,33% |
|
Cộng |
60 |
100 |
(RLCG: Rối loạn cảm
giác.)
Bảng 6. Lâm sàng thời kỳ toàn phát của 35
Bệnh nhân có chỉ số Siriraj > +1
|
Lâm sàng |
Số BN |
Tỷ lệ % |
|
Liệt nửa người +
DHMN + RLYT |
30 |
85,71 |
|
Liệt nửa người |
5 |
14,29 |
|
Cộng
|
35 |
100 |
DHMN: Dấu hiệu màng não. RLYT: Rối loạn ý
thức.
Bảng 7. Đặc điểm
điện não đồ khi bệnh nhân vào viện
|
ĐNĐ
Siriraj |
Delta
0,5 - 1,5 CK/S |
Delta
2 - 3,5 CK/S |
Cộng
|
|
< - 1 |
10 |
50 |
60 |
|
> + 1 |
29 |
6 |
35 |
|
Cộng |
39 |
56 |
95 |
- P > 0,05
Bảng 8. Một số yếu
tố nguy cơ
|
Siriraj
YTNC |
< - 1 |
> +1 |
Cộng |
Tỷ lệ% |
|
Tăng HA |
30 |
15 |
45 |
47,36 |
|
Tăng lipit máu |
27 |
17 |
44 |
46,30 |
|
Tăng đường máu |
3 |
3 |
6 |
6,34 |
|
Cộng |
60 |
35 |
95 |
P < 0,05 |
YTNC: Yếu tố nguy cơ ; HA: Huyết áp.
Bảng 9. Đối chiếu
chỉ số Siriraj với CT Scanner trong chẩn đoán nhồi máu não
|
CT Scanner
Siriraj |
CMN |
NMN |
Cộng |
|
< -1 |
38 |
2 |
40 |
|
> +1 |
4 |
26 |
30 |
|
Cộng |
42 |
28 |
70 |
* Độ nhạy 90,4% ; Giá trị dự báo (+) 95%
* Độ đặc hiệu 92,8%; Giá trị dự báo (-)
95%.
NMN: Nhồi máu não; CMN: Chảy máu não.
Bảng 10. Đối chiếu
chỉ số Siriraj với CT Scanner trong chẩn đoán chảy máu não
|
CT Scanner
Siriraj |
CMN |
NMN |
Cộng |
|
> +1 |
26 |
4 |
30 |
|
< -1 |
2 |
38 |
40 |
|
Cộng |
28 |
42 |
70 |
Độ nhạy 92,8%; Giá trị dự báo giá trị dự
báo (+) 86,6%.
Độ đặc hiệu 90,4%; Giá trị dự báo giá
trị dự báo (-) 95%.
Bảng 11. Đặc điểm điện
não đồ khi Bệnh nhân ra viện
|
ĐNĐ
Siriraj |
Delta
0,5 -3,5
CK/S |
Theta
4 - 7,5
CK/S |
Sóng cơ bản không
ổn định |
Cộng |
|
< -1 |
3 |
6 |
51 |
60 |
|
> +1 |
1 |
2 |
32 |
35 |
|
Cộng |
4 |
8 |
83 |
95 |
P< 0,05
Bảng 12. Mức độ di
chứng
|
Siriraj
Rankin |
< -1 |
> +1 |
Cộng |
Tỷ lệ |
|
I |
5 |
5 |
10 |
10,5 |
|
II |
10 |
15 |
25 |
26,3 |
|
III |
35 |
10 |
45 |
47,4 |
|
IV |
9 |
3 |
12 |
12,4 |
|
V |
1 |
2 |
3 |
3,1 |
|
Cộng |
60 |
35 |
95 |
100 |
BÀN LUẬN
Đặc điểm lâm sàng
Tai biến mạch máu não
gặp nhiều ở lứa tuổi 56 - 65, chiếm tỷ lệ 57,89%. Tỷ lệ Nam/Nữ ~ 2,6. Tỷ lệ
nhồi máu não cao hơn tỷ lệ chảy máu não. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu
của Lê Văn Thính, Nguyễn Hoàng Hải, Nguyễn Xuân Thản; Wang - LY.5,6,7,9
Tính chất khởi phát Bệnh
của nhồi máu não và chảy máu não có đặc điểm giống nhau là đều khởi phát đột
ngột, nhưng khác nhau về triệu chứng. Trong nhồi máu não, liệt nửa người là
75% chiếm tỷ lệ cao nhất, trong chảy máu não đau đầu dữ dội chiếm tỷ lệ cao
nhất 57,14%. Ngoài ra nhồi máu não còn có các triệu chứng rối loạn cảm giác
choáng váng, đau đầu nhẹ và nôn, chảy máu não triệu chứng khởi phát thường
cấp tính dữ dội hơn ngoài đau đầu dữ dội còn nôn và rối loạn ý thức. Kết quả
này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Xuân thản, Nguyễn
Chương.2,3,4,5 Các tác giả còn phân tích trong chảy máu não có tam chứng
chảy máu là đau đầu, nôn và rối loạn ý thức do vỡ mạch máu và mạch máu là
thành phần có cảm giác đau nhiều, mặt khác khi vỡ mạch máu, máu tụ chèn ép
vào tổ chức não lành, đè đẩy đường giữa gây phù não, tăng áp lực nội sọ.
Lâm sàng thời kỳ toàn
phát ở Bệnh nhân có chỉ số Siriraj <-1 (NMN). Brodmann chia vỏ não thành 52
vùng có cấu trúc và chức năng khác nhau, vùng vận động và cảm giác chiếm
diện rộng. Tổn thương vỏ não thường kèm rối loạn cảm giác lẫn liệt nửa
người, tổn thương thể gối và cánh tay sau của bao trong thì chỉ có liệt nửa
người đơn thuần, tổn thương vùng Broca bên bán cầu ưu thế Bệnh nhân có thất
ngôn và liệt nửa người. Trong nghiên cứu này 50% liệt nửa người có rối loạn
cảm giác; 28,33% liệt nửa người vận động đơn thuần; 32,66% liệt nửa người
kèm theo thất vận ngôn. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Văn Thính,
Nguyễn Xuân Thản, Nguyễn Hoàng Hải.
Lâm sàng thời kỳ toàn
phát ở Bệnh nhân có chỉ số Siriraj > + 1: Tỷ lệ liệt nửa người, rối loạn ý
thức kèm theo dấu hiệu màng não dương tính chiếm tỷ lệ 85,71%. Khi mạch máu
não bị vỡ, máu vào dịch não tủy lưu thông ở khoang dưới nhện kích thích
màng, mặt khác khối máu tụ chèn ép đẩy vào tổ chức não xung quanh gây hiệu
ứng choán chỗ dẫn đến phù não biểu hiện trên lâm sàng là rối loạn ý thức.
Phù não trong chảy máu não là do khối máu tụ chèn ép, đè đẩy làm tăng thể
tích não, phù não trong nhồi máu não là do ngộ độc vì tế bào não chuyển hoá
Glucoza trong quá trình yếm khí tạo ra các sản phẩm độc làm phù não sau 48
giờ kể từ khi có triệu chứng khởi phát.
Đặc điểm điện não đồ
trong tai biến mạch máu não
Theo Đinh Văn Bền TBMMN
thể nhồi máu thường thấy sóng Delta khu trú ở vùng tổn thương kèm theo rối
loạn sóng cơ bản, chảy máu não sóng Delta thường lan toả 2 bên bán cầu vì có
hiện tượng phù não.
Trong nghiên cứu này tỷ
lệ sóng Delta 2 - 3,5 CK/S chiếm 55/95 (57,89%), Delta 0,5 - 1,5 CK/S là
40/95 (42,1%) với giá trị P > 0,05. Kết qua’ này cho thấy điện não đồ không
có giá trị để chẩn đoán tai biến mạch máu não. Ghi điện não đồ khi Bệnh nhân
ra viện cho kết qua sóng Delta chỉ còn 4/95 (4,2%), sóng theta 8/95 (8,42%)
số còn lại chuyển thành sóng cơ ban 83/95 (87,36%) với P < 0,05. Như vậy
điện não đồ có giá trị theo dõi tiến triển và tiên lượng TB MMN.
Các yếu tố nguy cơ
Trong nhóm nghiên cứu có
3 yếu tố nguy cơ hay gặp đó là tăng huyết áp chiếm tỷ lệ 47,3%, tăng lipid
máu 46,3%, đái tháo đường 6,4%.
Kết quả phù hợp với
nghiên cứu của Lê Văn Thính, Nguyễn Xuân Thản và Nguyễn Hoàng Hải. Qua tính
toán với giá trị P < 0,05, như vậy các yếu tố như tăng huyết áp, tăng lipid
máu, tăng đường máu có liên quan đến tai biến mạch máu não.
Đối chiếu chỉ số Siriraj
với chụp cắt lớp vi tính não
Kết quả thu được là:
trong số 40 Bệnh nhân có chỉ số Siriraj < - 1 thì khi CT Scanner có 2 Bệnh
nhân là chảy máu não và ngược lại trong số 30 Bệnh nhân có chỉ số Siriraj >
+ 1 khi chụp CT Scanner có 4 Bệnh nhân là nhồi máu não. Chính điều này qua
tính toán đã• rút ra được độ nhạy để phát hiện NMN và CMN bằng chỉ số
Siriraj là 90,4% và 92,8%. Độ đặc hiệu để loại trừ NMN và CMN là 92,8% và
90,4%. Ngoài ra còn tính được giá trị dự báo dương tính và âm tính của NMN
và CMN để chẩn đoán với tỷ lệ cao. Kết quả này phù hợp với Wang - LY Nguyễn
Xuân Thản.
Mức độ di chứng
Mức độ di chứng của nhóm
nghiên cứu dựa vào bảng phân loại của Rankin cho thấy di chứng độ III chiếm
tỷ lệ cao nhất 47,4%. Kết quả này phù hợp với Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Chương
và Lê Văn Thính.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu này chúng
tôi rút ra một số kết luận sau:
Về đặc điểm lâm sàng
-
Lứa tuổi
hay gặp là 55 - 65 tuổi chiếm tỷ lệ 57,89%. Tỷ lệ nam/nữ ~2,6 với P < 0,05.
-
Tỷ lệ nhồi
máu não 63,15% chảy máu não 36,85%.
-
Khởi phát
liệt nửa người của NMN là 75%.
-
Khởi phát
đau đầu dữ dội của CMN là 57,14%.
-
Triệu
chứng thời kỳ toàn phát của NMN là liệt nửa người kèm theo rối loạn cảm giác
chiếm tỷ lệ 50%. Triệu chứng thời kỳ toàn phát của CMN là liệt nửa người kèm
dấu hiệu màng não và rối loạn ý thức chiếm tỷ lệ 85,71%.
Về yếu tố nguy cơ: Trong
TBMMN có tăng huyết áp và tăng mỡ máu chiếm tỷ lệ
cao lần lượt là 47,36% và 46,30%, với P < 0,05.
Về đặc điểm điện não
đồ ở bệnh nhân TBMNN.
-
Khi Bệnh
nhân nhập viện: Nhóm sóng Delta 0,5 - 1,5 CK/S là 39/95, nhóm sóng Delta 2 -
3,5 CK/S là 56/95; với P > 0,05.
-
Khi Bệnh
nhân ra viện: Nhóm sóng Delta 0,5 - 3,5 CK/S là 4/95 Bệnh nhân; nhóm sóng
Theta 4 - 7,5 CK/S là 8/95 Bệnh nhân; nhóm sóng cơ bản không ổn định là
83/95 Bệnh nhân với P < 0,05.
Về ứng dụng chỉ số
Siriraj: Cho thấy độ nhạy, độ đặc hiệu trong chẩn đoán NMN
lần lượt là: 90,4%; 92,8%. Độ nhạy và độ đặc hiệu trong CMN lần lượt là
92,8% và 90,1%.
Đề xuất: Đặc điểm lâm
sàng của NMN và CMN cũng khác nhau, do vậy thăm
khám lâm sàng kết hợp với ứng dụng chỉ số Siriraj cũng là một phương pháp
quan trọng giúp cho chẩn đoán TBMMN ở những địa phương chưa có CT - Scanner.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Đinh Văn Bền (2000). điện não đồ và các rối loạn mạch máu. Điện não
đồ ứng dụng trong thực hành lâm sàng. Đại học Y Hà Nội, tr 130 - 139.
2.
Nguyễn Chương (1992). một số nhận xét về tai biến mạch máu não trong
các năm 1978 - 1979. Báo cáo hội nghị chuyên đề tai biến mạch máu não lần
I. Đại học Y Hà Nội.
3.
Nguyễn Chương (2000). một số đặc điểm lâm sàng về các Bệnh thần kinh
ở Việt Nam. Chuyên san thần kinh học. Báo cáo hội nghị thần kinh học, tr 11
- 14.
4.
Nguyễn Văn Đăng (1995). tai biến mạch máu não. NXB Y học Hà Nội.
5.
Nguyễn Minh Hiện, Nguyễn Xuân Thản (1998). chẩn đoán phân biệt nhồi
máu n•o và chảy máu não bằng thang điểm Siriraj. Tạp chí y học quân sự,
5, 13 - 17.
6.
Nguyễn Hoàng Hải. Nghiên cứu chẩn đoán nhồi máu não động mạch não
giữa điều trị tại Khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai. Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Y học. Đại học Y Hà Nội.
7.
Lê Văn Thính (1995), đặc điểm lâm sàng, hình ảnh CC LVTN và hình ảnh
chụp động mạch não ở Bệnh nhân thiếu máu não cục bộ hệ động mạch cảnh.
Luận án PTS Y học. Học viện quân y.
8.
Lê Văn Thính, Lê Đức Hinh, Hoàng Đức Kiệt (1996). một số đặc điểm lâm
sàng và CC LVT não ở Bệnh nhân NMN. Y học Việt Nam, 22 - 25.
9.
Wang - LY, Hung -
LY, CS (1995). Clinical distinction
between acute Hemorrhagic and acute ischemic stroke by siriraj stroke score,
55 (33); 248 - 252).
10.
Savoiardo M; CS (1998). Computed Tomography scannig stroke 195 – 226