Chào mừng quý vị đến với trang web chính thức của Hội Thần Kinh Học TP Hồ  Chí Minh                                       

 

 

Giới thiệu sản phẩm

 

CÁC ĐIỆN THẾ GỞI CẢM GIÁC THÂN THỂ (SSEPs)

Nghiên cứu trên đầu một số bệnh nhân tại biến mạch máu não

Nguyễn Hữu Công[1]

 

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, phương pháp khám nghiệm các điện thế gợi cảm giác thân thể (Smomatosensory Evoked Potentials – SEPs) đã trở nên một phương pháp chẩn đoán có giá trị trong thần kinh học hiện đại. Nó có thể khảo cứu được hệ thống âm từ các dây thần kinh ngoại vi, qua rễ sau vào trong tủy sống, tới thân não, rồi tới đồi thị, và kết thúc ở vỏ não cảm giác thân thể. Phương pháp này có ưu việt là tìm hiểu những điện thế (sóng  - potentinal) có thời gian tiềm ngắn (short latencies) của bản ghi SEPs, gọi tắt là SSEPs. Đó là những sóng có thời gian tiềm dưới 25 ms khi kích thích dây thần kinh ở tay, và dưới 50 ms khi kích thích dây thần kinh ở chân.

 

Tuy vậy ở Việt Nam, cho tới nay chúng tôi chưa nhận được báo cáo chính thức nào về SSEPs. Tại TP. HCM và các tỉnh phía Nam, chưa có một cơ sở nào thực hiện loại xét nghiệm này. Do vậy, chúng tôi cố gắng thực hiện SSEPs trên một số ít bệnh nhân tai biến mạch máu não (TBMMN) đang nằm tại khoa nội thần kinh, bệnh viện 175. Vì những lý do khách quan, nên chỉ thực hiện ghi SSEPs được cho một số ít trong tổng số bệnh nhân TBMMN mà chúng tôi có và cũng chỉ ghi SSEPs trên dây thần kinh giữa (median nerve) mà thôi. Tuy vậy chúng tôi cũng mạnh dạn trình bày kết quả có được, nhằm mục đích giới thiệu một quy trình cơ bản của khám nghiệm SSEPs và sơ bộ tìm hiểu ý nghĩa của nó trong thực hành lâm sàng.

 

2. PHƯƠNG PHÁP

2.1 Lựa chọn bệnh nhân

Bao gồm các bệnh nhân bị TBMMN gây tê liệt hoặc bại nữa người. Tất cả đã được chụp CT Scan chẩn đoán chảy máu não hoặc huyết khối mạch não thuộc bán cầu đại não ở một bên. Bệnh nhân được lựa chọn gồm cả người có triệu chứng cảm giác (cảm giác nữa người), lẫn người không có thay đổi gì về cảm giác. Không phân biệt nam nữ, tất cả đều tính tuổi và xác định chiều cao.

 

Loại trừ ra khỏi nhóm nghiên cứu các bệnh nhân có Urê và/hoặc Creatinin máu cao, loại trừ bệnh nhân có tiền sử bệnh tiểu đường, loại trừ những bệnh nhân không có tiền sử bệnh tiểu đường, nhưng đường huyết lúc đói kể từ khi nhập viện cho tới lúc ra viện luôn luôn ở mức cao (>6,1 mmol/L) trong 3 lần thử cách quãng nhau vài ngày.

 

Vì lý do khách quan (vận chuyển bệnh nhân khảng cách xa giữa khoa Nội Thần Kinh với chẩn đoán chức năng, thời gian ghi SSEPs cho những bệnh nhân hôn mê, hoặc đang cần chăm sóc đặc biệt.

 

2.2 Kỹ thuật

Máy ghi điện cơ NEUROMACK 8, sản xuất tại Nhật.

Bệnh nhân nằm ngửa trên giường thư giãn, trong phòng điều hòa nhiệt độ (nhiệt độ từ 25 – 30 oC) thư giãn, thả lỏng, không nói và không cục cựa.

Dùng cặp điện cực lưỡng cực để kích thích dây thần kinh ở ngay nếp gấp cổ tay, với âm cực (cathode) đặt hướng vế phía trung tâm (poximal) và cực dương (anode) hướng về phía ngọn chi (distal). Điện cực hình dĩa, gắn với miếng xốp thấm đẫm dung dịch muối sinh lý để dẫn điện. Kích thích bằng xung điện có tần số 5 lần/giây (5Hz). Độ dài (thời khoảng – duration) của xung điện thường là 100 – 200 ms. Chúng tôi sử dụng những kích thích gây nên co nhẹ cơ đối chiếu ngón cái (m. opponens pollicis), nhìn thấy được mà không gây đau, tức là ngay sát trên ngưỡng vận động. Do vậy cường độ dòng điện thường là 4 – 10 mA. Theo nguyên tắc, điện cực đất đặt ở giữa điện cực kích thích và điện cực ghi, sao cho ở gần điện cực kích thích hơn, cụ thể điện cực đất được quấn quanh cẳng tay (xem hình 1).

 

Ghi các điện thế gợi được (Evoked Potentials – EPs) bằng điện cực hình đĩa, về mặt điện cực được bôi bột nhão dẫn điện. Làm sạch da của bệnh nhân ở vùng đặt điện cực ghi bằng một loại kem dùng riêng, nhằm làm cho trỏ kháng (impedance) giữa da và điện cực không vượt quá 5 k( (kOhm). Dùng 4 điện cực ghi, trong đó điện cực hoạt động (điện cực âm của từng cặp được đặt tại : 1) trên vùng vỏ não cảm giác thân thể của tay, tức là 2 cm sau C3 (nếu ở bán cầu trái) – gọi là C3’, hoặc 2 cm sau C4 (nếu ở bán cầu phải) – gọi là C4’, theo qui ước của hệ thống ghi EEG 10 – 20 quốc tế. Điện cực ghi này đặt bên đối diện với bên của dây giữa được kích thích điện ; 2) Trên vùng rìa của trán, chỗ của Fpz ; 3) trên điểm C5s (chính giữa cột sống cổ, khe giữa mõm gai C5 và C6) ; và 4 (điểm Erb (ngay trên hố thượng đòn), cùng bên với dây giữa được kích thích. Ngoài ra còn có một điện cực ghi đặt trên điểm Erb bên đối diện với bên dây giữa được kích thích, điện cực này đóng vai trò điện cực đối chiếu. Các điện cực được nối với nhau theo sơ đồ như sau : 1) C3’ hoặc C4’ đối chiếu với Fpz (kênh 1 và 2) C3’ và C4’ đối chiếu với điểm Erb bên đối diện (kênh 2), 3) cột sống cổ C5s đối chiếu với Fpz (kênh 3), và 4) từ điểm Erb cùng bên đối chiếu với điểm Erb bên đối diện (kênh 4). Với các mắc điện cực như vậy, kênh 1 và 2 cho ta các điện thế thu được chủ yếu từ vỏ não cảm giác, kênh 3 cho điệnt hế từ cột sống cổ, kênh 4 cho điện thế từ đám rối cánh tay.

 

Bảng 1 : Phương thức nối điện cực trên máy ghi SSEP

 

 

Cực âm (-)

Cực dương (+)

Kênh 1

C4’

Fpz

Kênh 2

C4’

EP2

Kênh 3

C5s

Fpz

Kênh 4

EP1

EP2

 

 

Kích thích điện vào dây giữa 1.000 lần, máy tính điện tử sẽ khuyếch đại và tính trung bình cộng các tín hiệu thu được từ các điện cực ghi, và cho 4 đường ghi trên màn hình. Tốc độ quét của màn hình 3ms/1 ô vuông, và độ phóng đại trên màn hình là 50 (V/1 ô vuông. Kích kích tay bên phải và ghi bán cầu bên trái, rồi sau đó bố trí lại điện cực để kích thích tay bên trái và ghi bán cầu bên phải. Như vậy là nghiên cứu SSEPs cả hai bên : bên bị liệt (hoặc bại) và bên lành. Mỗi bên tiến hành kích thích dây giữa và ghi lặp lại 2 lần. Chỉ ghi lại các điện thế có thời gian tiềm ngắn (dưới 25 ms), dựa trên chương trình đã định sẵn của máy tính (Menu SSEP).

 

2.3 Xử lý thống kê

Định nghĩa SSEPs bên lành là SSEPs khi kích thích điện vào dây giữa của tay không liệt, ghi điện thế gợi ở hố thượng đòn cùng bên (EP1) và vỏ não cảm giác đối bên, phía bán cầu không tổn thương trên CT scan. Tương tự, SSEPs bênh bệnh là khi kích thích điện vào dây giữa bên tay bị liệt, ghi EP1 (cùng bên) và C3’ (hoặc C4’) đối bên, phía bán cầu chảy máu hay nhồi máu (huyết khối) trên CT scan.

 

Lưu trữ và thống kê hình ảnh SSEPs của cả bên bệnh, lẫn bên lành. Dựa vào SSEPs bên lành, xác định những điện thế nào thường có nhất và định danh (xác định tín hiệu dựa vào thời gian tiềm) theo thông lệ quốc tế. Tính thời gian tiềm (latency) của các điện thế có được, quan xác độ lớn (biên độ – amplitude) của chúng. Theo qui định quốc tế và đã được chứng minh trên lý thuyết cũng như thực nghiệm, nếu điện thế ở trên đường đẳng điện, ta gọi là âm tính, ký hiệu N (Negative). Ngược lại nếu nằm dưới đường đẳng điện, ta gọi là dương tính, ký hiệu P (Positive). Đánh số ký hiệu bằng số tính tròn của thời gian tiềm trung bình. Ví dụ N9 nghĩa là sóng âm có thời gian tiềm gần bằng 9ms.

Coi các số liệu ghi được bên lành là số liệu ghi gần bình thường, khảo sát mối liên hệ giữa thời gian tìm của các điện thế SSEPs ghi được với với tuổi hoặc chiều cao của người bệnh. Nghiên cứu về khả năng tương quan tuyến tính dựa trên hệ số tương quan r (correlation coefficient r), với cách đánh giá : 1) ( 0,7 : tươnh quan tuyến tính rất chặt chẽ ; 2) r trong khoảng 0,5 đến 0,7 tương quan khá chặt ; 3) r trong khoản 0,3 –0,5 : tương quan mức độ vừa : 4) r < 0,3 rất ít liên quan.

 

Xếp 2 thờigian tiềm của cùng một điện thế (ví dụ N9 bên lành và N9 bên bệnh) của cùng một bệnh nhân vào thành một tập, ta có chuỗi các cặp (ví dụ N9 có 24 cặp, mỗi cặp gồm một giá trị thời gian tiềm bên lành, và một giá trị bên bệnh). Sử dụng phương pháp kiểm định t – test cho nghiên cứu từng cặp, ta tìm xem khác biệt về thời gian tiềm trong một cặp (so bênh bệnh với bên lành) là có ý nghĩa hay không.

 

Đặt biệt lưu ý tới những điện thế ghi được trực tiếp từ điện cực ghi đặt trên vunøg vỏ não cảm giác.

 

3. KẾT QUẢ

Chúng tôi đã thực hiện được  phép ghi SSEPs trên 24 bệnh nhân bị tai biến mạch máu não. Bao gồm 12 nam và 12 nữ tuổi trung bình là 65,0 (SD = 10,85) cao nhất là 83 tuổi – thấp nhất là 46 tuổi. Chiều cao trung bình là 159 cm (SD = 7,5), cao nhất là 175 cm – thấp nhất là 145 cm.

 

 

 

 

3.1.  SSEPs bên lành

Nghiên cứu trên cả các bản ghi SSEPs bên lành, thấy có 3 điện thế nỗi bật và luôn gặp.

Điện thế thứ nhất ghi được từ hố thượng đòn, tức là từ điện cực EP1 (điểm Erb – từ đám rối cánh tay cùng bên với dây thần kinh giữa được kích thích điện). Điện thế này có thời gian tiềm rung bình là 9,65 ms, có chiều âm (Negative) chúng toiâ ký hiệu là N9.

Điện thế thứ nhì ghi được rõ từ điện cực C5s (từ cột sống cổ). Điện thế này co ùthời gian tiềm trung bình là 13,09 ms, có chiều âm (Negative), chúng tôi ký hiệu là N13.

Điện thế thứ 3 ghi được rõ từ điện cực C4’ hoặc C3’(từ vỏ não cảm giác). Điện thế này có thời gian tiềm trung bình là 19,40 ms, có chiều âm (Negative), chúng tôi ký hiệu là N20.

Còn lại những điện thế (âm hay dương) khác, chúng tôi thấy xuất hiện không thường xuyên, và nếu có xuất hiện thì cũng không có biên độ lớn nổi bật, do vậy được bỏ qua trong nghiên cứu này.

 

Bảng 2 : Các giá trị về thời gian tiềm của SSEPs bên lành (ms)

 

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Số lớn nhất

Số nhỏ nhất

N9

9,65

0.63

10,94

8,96

N13

13,09

1,06

15,83

11,64

N20

19,40

1,14

22,50

17,90

 

Tìm hiệu số giữa thời gian tiềm của N20 với N9, gọi là thời gian dẫn truyền của cảm giác trung ương, chúng tôi có giá trị trung bình là 9,75 và SD là 0,81.

 

Nghiên cứu về khả năng tương quang tuyến tính giữa thời gian tiềm SSEPs với tuổi hoặc chiều cao của người bệnh, dựa trên hệ số tương quan r (correlation coefficient r) thu được kết quả trong bảng sau :

 

Bảng 3 : Khảo sát tương quan giữa thời gian tiềm SSEPs bên lành với tuổi và chiều cao của bên bệnh nhân :

 

N9

N13

N20

Hệ số tương quan r của SSEPs với chiều cao

0,011

0,446

0,332

Kết luận về mức độ tương quan

rất ít

vừa

vừa

Hệ số tương quan r của SSEPs với tuổi

0,001

-0,095

-0,009

Kết luận về mức độ tương quan

rất ít

rất ít

rất ít

 

3.2. SSEPs bên bệnh :

Với những điện thế đã định danh rõ ràng nhờ nghiên cứu SSEPs bên lành, chúng tôi tìm hiểu ở bên bệnh. Kết quả nghiên cứu về thời gian tiềm, so sánh với bên lành, như sau :

 

Bảng 4 : So sánh thời gian tiềm của SSEPs bên lành với bên bệnh :

 

N9

N13

N20

Bên lành

9,65* (0,63**)

13,09 (1,06

19,40 (1,14

Bên bệnh

9,73 (0,77

13,19 (1,05)

19,59 (1,39

*    : Số trung bình tính bằng ms

**  : Độ lệch chuẩn (SD).

Sử dụng phương pháp kiểm định t – test cho nghiên cứu từng cặp (mỗi bệnh nhân cho 1 cặp từng SSEP tương ứng ), chúng tôi thấy sự khác biệt về thời gian tiềm các SSEPs (của N9, N13 và N20) giữa bên bị bệnh và bên lành là không có ý nghĩa thông kê, với độ tin cậy đều là P<0,005. Riêng với N20 do có một số cặp ở bên bệnh không có N20, nên khi tiến hành phép kiểm định so sánh, chúng tôi loại bỏ các cặp sole (mất một bên) đó ra khỏi chuỗi các cặp. So sánh N20 bênh bệnh với N20 bên lành, khi đã loại bỏ các cặp sole, với kiểm định t – test, chúng tôi cũng thấy sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê, với độ tin cậy P<0,005.

 

3.3. So sánh hai bên về biên độ của SSEPs

Biên độ của các SSEPs phụ thuộc một phần vào cường độ kích thích, dù các SSEPs từ vỏ não hoặc tủy cổ (N13 và N20) ít lệ thuộc hơn. Do vậy chúng tôi cố gắng duy trì sao cho cường độ kích thích ở hai tay là gần bằng nhau. Không so sánh biên độ theo số tuyệt đối (quy bằng (V), chúng tôi so sánh biên độ của các điện thế tương ứng giữa hai bên một cách tương đối. Chúng tôi nhận thấy : biên độ N9 và N13 khi so sánh hai bên thường không có khác biệt đáng kể. Trong khi đó, tùy từng bệnh nhân. Biên độ N20 giữa hai bên có thể khác biệt nhiều hoặc ít. Chúng tôi phân chia ra 4 loại khác biệt : 1) Mất hẳn N20 (biên độ bằng 0) ở bên bệnh, thấy ở 6/24 bệnh nhân; 2) Biên độ bên bệnh giảm nặng (biên độ bên bệnh (50% biên độ của bên lành) ở 4/24 bệnh nhân; 3) Biên độ bên bệnh giảm nhẹ (>50% biên độ của bên lành) ở 2/24 bệnh nhân; và 4) không có khác biệt rõ ràng về biên độ N20 giữa hai bên ờ 12/24 bệnh nhân.

 

Sau đây là những hình ảnh minh họa cho 4 kiểu khác biệt ấy.

 

4- BÀN LUẬN

Khi ta kích thích điện vào một thân dây thần kinh có các sợi dẫn truyền cảm giác, thì xung thần kinh hướng tâm sẽ đi dọc theo dây thần kinh ngoại vi, qua rễ sau vào trong tủy sống, rồi lên tới vỏ não. Trên quãng đường đi trên thần kinh ngoại vi, tốc độ dẫn truyền phụ thuộc vào khả năng dẫn truyền của những sợi có myelin. Người ta (2,5) đã chứng minh là ở ngoại vi thành phần N20 được dẫn truyền bởi các sợi nhóm I dẫn truyền nhanh nhất (theo phân loại Lioyd và Hunt). Theo Ellrich J và Hopf HC (2) , có các sợi Ib (dẫn truyền hướng tâm của cơ quan Golgi ở gân) không tham gia dẫn truyền vào N20, mà chủ yếu là các sợi dây la dẫn truyền. Tại trung ương, người ta đã chứng minh được là phương pháp ghi SSEPs giúp ghi nhận được chủ yếu là những xung thần kinh đi dọc theo cột sau tủy sống, còn theo bó gai-đồi thị thì ít khả năng hơn. Các xung thần kinh đi tới thân não, tại đây sau khi bắt chéo ở hành não, các xung động đi tiếp theo dảo dọc giữa (lemniscus medialis) để tới đồi thị, và kết thúc ở vỏ não cảm giác thân thể.

Vì lý do có một đoạn dài đi ở ngoại vi, nên khi khảo sát các giá trị gần bình thường của điện thế gợi cảm giác thân thể (SSEPs bên lành), chúng tôi cố gắng loại bỏ các yếu tố có thể gây rối loạn dẫn truyền ở ngoại vi, tức là các nguyên nhân có thể có của chứng viêm đa dây thần kinh. Đó là : bệnh tiểu đường, chứng nghiện rượu, bệnh thận. Tuy vậy, các kết quả thu được ở bên lành chỉ là gần bình thường, không thể coi là bình thường, vì bệnh nhân hầu hết bệnh nhân đều khá lớn tuổi, và chính họ cũng đang bị tai biến mạch não. Do thiếu kinh phí và thời gian, chúng tôi chưa có điều kiện thu thập số liệu trên người bình thường khỏe mạnh, để có được số liệu bình thường, nhằm so sánh với số liệu của người bệnh. Chúng tôi dùng số liệu bên lành, so sánh với bên bệnh. Điều đó cũng phù hợp với một trong những nguyên tắc thăm khám của ngành thần kinh học là khám so sánh hai bên phải – trái, để tìm sự khác biệt giữa hai bên.

Theo các tác giả (3,5), khi ghi điện thế gợi của dây giữa ở khu vực của các điện thế có thời gian tiềm ngắn (tức là dưới 25 ms, gọi là SSEPs), chúng ta sẽ có một đường cong ổn định. Tùy theo các cách mạch điện cực ghi khác nhau, mà đường ghi SSEPs cho những sóng âm hay dương khác nhau. Một sóng là âm với cách mắc điện cực ghi này, sẽ có thể lộn ngược thành dương với cách mắc điện cực ghi khác, nhưng thời gian tiềm của nó không thay đổi. Các tác giả (3,5) thường mô tả các đỉnh sóng (điện thế) sau : N9, N11, N13, N17, N20, P25. Aminoff MJ và Eisen A (5) mô tả các điện thế P9, P11, P13/P14, N18, N20 và P22. Tuy vậy, theo Fiedler J (3) thì những đỉnh có phân bố hằng định là N9, 13, 20. Điều này cũng phù hợp với các kết quả chúng tôi nhận được, cũng như của các tác giả khác (1,2,4,6). Các tác giả đều thống nhất nguồn phát của N9 là từ đám rối cánh tay ghi được tốt nhất từ điểm Erb; Còn N13 phản ánh hoạt động của những nhân của các cột sau, ghi được tốt nhất từ cột sống cổ. Nguồn phát của N20 được tranh cãi nhiều, gần đây (5) những quan sát lâm sàng về tương quan giữa SEP và CT ở những bệnh nhân tai biến mạch não khu vực đồi thị đã chỉ ra rằng : Phóng chiếu đồi thị – vỏ não (thalamocortical radiation) đóng vai trò chính yếu cho N20, còn vỏ não thì chỉ đóng vai trò phụ trợ. Các số liệu gần bình thường của chúng tôi, đem so sánh với số liệu bình thường trên người tình nguyện khỏe mạnh của các tác giả khác (3,5,6) thể hiện trong bảng sau:

Bảng 5 : Giá trị thời gian tiềm bình thường của SSEPs.

 

 

Theo Ganes, Lastmosa, Kimura

Theo Fiedler

Số liệu bên lành của của chúng tôi

 

Trung bình

SD

Trung bình

SD

Trung bình

SD

N9

10,2

0,9

9,8

0,6

9,65

0,63

N13

13,6

0,9

13,4

0,9

13,09

1,06

N20

19,3

1,2

18,9

1,1

19,40

1,14

N20-N9*

8,3

0,48

 

 

9,75

0,81

 

* : Theo Misra và Kalita (6)

Gần đây nhất, theo Beis và cộng sự (1) thì N20 nằm trong khoảng 19,4-25,92 ms, với trung bình là 22,68 và SD là 1,57. Số liệu này thoạt nhìn có vẻ rất khác với các số liệu của chúng tôi và các tác giả khác. Nhưng các tác giả này có được N20 bằng cách kích thích dây giữa ở ngón tay, chứ không phải ở cổ tay như thông lệ, do vậy N20 của họ có thời gian tiềm dài hơn là điều dễ hiểu.

Như vậy, mặc dù các số liệu của chúng tôi chỉ được phép coi là gần bình thường, nhưng cũng khá tương đồng với những số liệu bình thường của các tác giả khác trên thế giới.

Nhiều tác giả tìm thấy có tương quan tuyến tính giữa thời gian tiềm của SSEPs với chiều cao hoặc với tuổi (3,5). Tuy nhiên những nghiên cứu của chúng tôi (xem bảng 3) không chứng minh rõ ràng được điều này, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu với mẫu lớn hơn, và trên những người tình nguyện hoàn toàn khỏe mạnh, thì mới xác minh lại được về khả năng tương quan này trên người Việt Nam.

Nếu coi thời gian tiềm của N9 là thời gian dẫn truyền SSEPs ở ngoại vi (từ điểm kích thích tới đám rối cánh tay), và coi thời gian tiềm của N20 bao gồm cả thời gian tiềm của N9 lẫn thời gian dẫn truyền từ đám rối thần kinh cánh tay qua tủy sống tới não bộ, thì người ta có thời gian dẫn truyền cảm giác trung ương (Central Sensory Conduction time – CSCT) là hiệu số N20-N9. Theo Misra UK và Kalita J (6) thì CSCT từ 32 người bình thường khỏe mạnh là 8,3 ( 1,2 ms (trung bình ( 2,5 SD). So sánh với những số liệu của chúng tôi (xem bảng 5), thì có sự chênh lệch khá nhiều, có lẽ số liệu chúng tôi thu được từ những người vốn có tổn thương trung ương, dù là tổn thương phía đối diện, nhưng cũng có thể ảnh hưởng ít nhiều tới dẫn truyền bên lành.  Để có thể kết luận chắc chắn được, rõ ràng cần có một nghiên cứu về CSCT trên mẫu lớn người Việt Nam bình thường khỏe mạnh.

Như bảng 4 và mục 3.2 đã nêu rõ, sự khác biệt về thời gian tiềm của N20 giữa bên bệnh và bên lành là không rõ ràng. Điều ấy chứng tỏ nghiên cứu về thời gian tiềm của SSEPs có thể là ít có giá trị trong tai biến mạch máu não (TBMMN). Ngược lại, khi nghiên cứu về biên độ, thấy có sự khác biệt ở khoảng 1/2 số bệnh nhân, như đã nêu trong mục 3.3. Với các hình ghi SSEPs minh họa kèm theo. Như vậy, trên một bệnh nhân  liệt vận động nửa người do TBMMN chúng ta còn có thể ghi SEEPs để nghiên cứu về khả năng tổn thương các con đường dẫn truyền cảm giác trung ương, và thậm chí có thể chia được độ nặng của tổn thương. Dù N20 chỉ phản ánh cảm giác, nhưng trên thực tế lâm sàng, chúng tôi sơ bộ nhận thấy ở những người có N20 bên bệnh bị mất hoặc suy giảm nặng (10/24 bệnh nhân), thì thường hồi phục vận động và chức năng não nói chung cũng rất kém. Điều đó gợi ý sử dụng SSEPs như là một trong các yếu tố góp phần tiên lượng khả năng hồi phục cho bệnh nhân TBMMN.

 

5- KẾT LUẬN

Khám nghiệm SSEPs giúp xác định tổn thương hệ thống hướng tâm ở một tầm mức cho tới nay vẫn chưa từng có : từ hệ thần kinh ngoại vi cho tới tận khu vực của vỏ não. Nhờ phân bố giải phẫu xác định của từng đỉnh của đường cong SSEPs, ta có thể định khu vị trí tổn thương tốt hơn.

 

Nghiên cứu của chúng tôi về SSEPs của dây giữa, so sánh hai bên, trên bệnh nhân tai biến mạch máu não không hôn mê và đã loại trừ các yếu tố có thể ảnh hưởng dẫn truyền ngoại vi, có lẽ là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam trong lĩnh vực SSEPs. SSEPs của dây giữa ở bên lành gồm có 3 điện thế tương đối ổn định là N9, N13 và N20. Các số liệu ần bình thường, thu được với SSEPs bên lành của chúng tôi, tương đối giống với các tác giả khác trên thế giới. Riêng thời gian dẫn truyền cảm giác trung ương - CSCT (N20-N9) của chúng tôi có khác với của các tác giả khác (6), dù so sánh thời gian tiềm N20 giữa bên bệnh với bên lành không thấy có khác biệt gì đáng kể.

 

Nghiên cứu cho thấy thời gian tiềm của tất cả các thành phần của SSEPs không thay đổi rõ rệt, khi so bên bệnh với bên lành. Trong khi đó, biên độ của N20 ở khoảng 1/2 số bệnh nhân được nghiên cứu suy giảm ít nhiều. Trong 24 bệnh nhân được nghiên cứu, biên độ N20 giảm nặng hoặc mất N20 thấy ở 10 bệnh nhân. Quan sát hồi phục chức năng trên lâm sàng của những bệnh nhân này, chúng tôi thấy biên độ N20 co the ùågóp phần giúp tiên lượng khả năng hồi phục cho các bệnh nhân tai biến mạch máu não.

 

Công trình nghiên cứu này chỉ là bước đầu nghiên cứu về SEEPs, cần tiến hành nghiên cứu trên các mẫu lớn hơn, với khảo cứu nhiều thông số của SSEPs hơn. Đặc biệt cần xác lập số liệu về SSEPs trên người Việt Nam bình thường khỏe mạnh. Tuy vậy, qua công trình này, chúng tôi cũng thấy SSEPs có một giá trị nhất định trong đánh giá tổn thương chức năng thần kinh, và có thể góp phần vào tiên lượng của bệnh.

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.                               Beis JM, André JM, Vielh A & Ducrocp X : Event-related potentials in the segmental exclusion syndrome of the upper limb. Electromyyography and Clinical Neurophysiology, Offical Journal of the American Socisty For Clinical Evoked Potentials (ASCEP). Voume 38, Number 4, Tune 1998, p : 247-252

 

2.                               Ellrich J & Hopf HC : Cerebral potentials are not evoked by activation of Golgi tendon organ afferrents in human abductor hallucis muscle. Electromyogr. Clin. Neurophysiol, Offical Journal of The ASCEP. Volume 38, Number 3, April-May 1998, p : 137-139.

 

3.                               Fiedler J : Písemná Prace na atestaci II, Neurologická klinika/Karlova Universita, Pilsen, Czech republic, 1990.

 

4.                               Manzano GM, Negrão N and Nóbrega JAM : Some Functional observations ralated N18 component of the median nerve SEP. Electromyogr. Clin. Neurophysiol., Offical Journal of the ASCEP. Volume 38, Number 5, July-August 1998, p : 259-266.

 

5.                               Michael J. Aminnoff & Andrew Eisen : Somatosensory Evoked Potentials (SEPs). In : Electrodignosis in Clinical Neurology, 3th Edition. Churchill Livingstone 1992, p : 571-603.

 

6.                               Misra UK & Klita J : Neurophysiological studies in herpes simplex encephalitis. Electromyogr. Clin. Neurophysiol, Offical Journal of The ASCEP. Volume 38, Number 3, April-May 1998, p : 177-181.

 

 

Số lượt truy cập:  Hit Counter

Mọi câu hỏi hoặc góp ý về trang web, xin gửi tới thankinhhcm@gmail.com.
Ngày cập nhật: 16/06/11