ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não là
bệnh thần kinh phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới. Tai biến mạch máu não
gồm nhồi máu não (NMN) và chảy máu não (CMN), trong đó NMN chiếm tỷ lệ
70-80%, CMN chiếm 20-30%. Trong thực hành, chẩn đoán phân biệt CMN và NMN là
cơ sở cho điều trị an toàn, hiệu quả. Chẩn đoán chính xác dựa vào chụp cắt
lớp vi tính (CLVT) sọ não. Tuy nhiên không phải cơ sở y tế nào cũng thực
hiện được kỹ thuật này. Năm 1985, Poungvarin N., Viriyavejakul A. và
Komontri C. (Bệnh viện Siriraj - Trường đại học Mahidol, Thái Lan) dựa vào
các chỉ số lâm sàng đưa ra thang điểm Siriraj trong chẩn đoán phân biệt giữa
NMN và CMN trên lều tiểu não. Thang điểm này được đánh giá bởi nhiều ý kiến
trái ngược nhau. Mặt khác, một số triệu chứng trong thang điểm này ít gặp
trong thực hành lâm sàng. Từ những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu một số
đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá thang điểm Siriraj trong chẩn
đoán phân biệt CMN và NMN trên lều tiểu não.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
120 bệnh nhân (BN) tai
biến mạch máu não trên lều tiểu não, tuổi từ 18-82 điều trị tại Bệnh viện
103 từ tháng 8/2001-8/2002, được lựa chọn theo tiêu chuẩn lâm sàng và chụp
CLVT:
-
Về lâm
sàng, dựa theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG): tai biến mạch
máu não là biểu hiện về lâm sàng dưới dạng thiếu sót thần kinh cấp tính với
sự khởi phát đột ngột (trong vài giây) hoặc nhanh (trong vài giờ) của các
triệu chứng và dấu hiệu tương ứng với tổn thương khu trú của não do cơ chế
mạch máu. Ngất tim và chảy máu dưới nhện không có biến chứng (không có tổn
thương não) không được bao hàm trong định nghĩa này.
-
Về hình
ảnh CLVT não, chỉ chọn những bệnh nhân có hình ảnh CMN (tăng tỷ trọng) hoặc
NMN (giảm tỷ trọng) rõ và vị trí tổn thương trên lều tiểu não.
-
Loại khỏi
nghiên cứu những BN có lâm sàng không phù hợp với định nghĩa của TCYTTG và
những trường hợp không có hình ảnh CMN hoặc NMN trên phim CLVT, hoặc vị trí
tổn thương dưới lều tiểu não.
Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành theo
phương pháp tiến cứu, mỗi BN đều được đánh giá:
-
Về lâm
sàng: các yếu tố nguy cơ trong tiền sử, các dấu hiệu tiền triệu, cách khởi
phát, các triệu chứng thần kinh và các bệnh nội khoa khác, theo dõi tiến
triển và kết quả điều trị.
-
Tính điểm
theo thang điểm Siriraj: Điểm Siriraj = (2,5 ( ý thức) + (2 ( đau đầu) + (2
(nôn) + (0,1 ( huyết áp tâm trương) - (3 ( chỉ điểm vữa xơ) - 12. Trong đó:
·
ý thức
khởi phát: tỉnh: 0 điểm, bán hôn mê: 1 điểm, hôn mê: 2 điểm.
·
Đau đầu,
nôn trong vòng 2 giờ từ khi khởi phát: không: 0 điểm, có: 1 điểm.
·
Huyết áp
tâm trương tính bằng mmHg.
·
Chỉ điểm
vữa xơ (đái tháo đường, đau thắt ngực, đi lặc cách hồi): không: 0 điểm, nếu
có từ 1 chỉ điểm trở lên: 1 điểm.
Cách sử dụng điểm
Siriraj : < -1: chẩn đoán NMN; từ -1 đến 1: chẩn đoán không chắc chắn, cần
chụp CLVT; > 1: chẩn đoán CMN.
-
Về cận lâm
sàng: xét nghiệm công thức máu; sinh hoá máu (mỡ máu, điện giải đồ); điện
tim; chụp CLVT não.
So sánh giữa CMN và NMN
về các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá các triệu chứng trong thang
điểm Siriraj, tính độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, tỷ lệ
chẩn đoán không chắc chắn của thang điểm Siriraj.
KẾT QUẢ
Đặc điểm lâm sàng
-
Các thể
tai biến: CMN: 67 BN (55,8%), NMN: 53 BN (44,2%).
-
Yếu tố
nguy cơ trong tiền sử: hẹp van hai lá và đau thắt ngực gặp ở NMN nhiều hơn
CMN (9,4% so với 1,4%) (P < 0,05). Đái tháo đường gặp 4,4% ở NMN và 7,5% ở
CMN, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Không gặp
đi lặc cách hồi ở cả CMN và NMN.
-
Trong các
dấu hiệu tiền triệu, tê bì nửa người gặp ở NMN với tỷ lệ cao hơn CMN (13,2%
so với 2,9%) (P < 0,05).
-
Các triệu
chứng khác được trình bày trong bảng sau:
Các đặc điểm cận lâm
sàng
-
Xét nghiệm
công thức máu: tăng bạch cầu đa nhân trung tính gặp ở 19 BN (28,3%) CMN và 8
BN (15,1%) NMN. Không có sự khác biệt về xét nghiệm công thức máu giữa CMN
và NMN.
|
Trieäu chöùng |
CMNMN
(nn = 67) |
NMNMN
(nn = 53) |
PP |
|
Kieåu khôûi phaùt |
Ñoät ngoät |
45 (67,1%) |
10 (18,8%) |
< 0,05 |
|
Cấp tính |
21 (31,4%) |
32 (60,4%) |
|
Nặng dần |
1 (1,5%) |
11 (20,8%) |
|
Ý thức |
Tỉnh |
37 (55,2%) |
45 (85,0%) |
< 0,05 |
|
Bán hôn mê |
13 (19,4%) |
4 (7,5%) |
|
Hôn mê |
17 (25,4%) |
4 (7,5%) |
|
Đau đầu |
52 (77,6%) |
15 (28,3%) |
< 0,05 |
|
Nôn |
31 (46,2%) |
4 (7,5%) |
< 0,05 |
|
Rối loạn ngôn ngữ |
46 (68,6%) |
21 (39,6%) |
< 0,05 |
|
Rối loạn cơ vòng |
32 (47,7%) |
12 (22,6%) |
< 0,05 |
|
Hội chứng màng não |
29 (43,2%) |
2 (3,7%) |
< 0,05 |
|
Sốt |
8 (11,9%) |
0 |
< 0,05 |
|
Huyết áp tâm thu
(mmHg) |
181,5
±
33,3 |
156,8
±
32,5 |
< 0,05 |
|
Huyết áp tâm
trương(mmHg) |
105,1
±
18,3 |
91,9
±
16,6 |
< 0,05 |
-
Xét nghiệm
sinh hoá máu: tăng glucose máu gặp ở 3 BN (4,4%) CMN và 4 BN (7,5%) NMN.
Không có sự khác biệt về xét nghiệm sinh hoá máu giữa CMN và NMN.
-
Điện tim:
nhịp nhanh xoang và thiếu máu cơ tim là hai biến đổi điện tim hay gặp nhất
(15,0% và 11,9% ở CMN; 11,3% và 13,2% ở NMN). Không có sự khác biệt về điện
tim giữa CMN và NMN.
-
Hình ảnh CLVT: phần lớn BN (94,0% CMN và 88,6% NMN) có 1 ổ tổn thương trên
hình ảnh CLVT não. Các dấu hiệu gián tiếp được trình bày trong bảng sau:
Thang điểm Siriraj trong
chẩn đoán phân biệt CMN và NMN
-
Trong số các triệu chứng của thang điểm Siriraj, đái tháo đường và đi lặc
cách hồi là những triệu chứng có tỷ lệ không khác biệt giữa hai nhóm CMN và
NMN.
-
Điểm
Siriraj và các thể tai biến mạch máu não:
|
Điểm Siriraj |
CMN |
NMN |
Cộng |
|
< -1 |
6 |
44 |
50 |
|
Từ -1 đến 1 |
10 |
4 |
14 |
|
> 1 |
51 |
5 |
56 |
|
Cộng |
67 |
53 |
120 |
Từ đó tính được:
-
Tỷ lệ chẩn
đoán không chắc chắn:
(10 + 4)/120 (11,6%).
-
Độ nhạy
chẩn đoán CMN: 51/57 (89,4%).
-
Độ nhạy
chẩn đoán NMN: 44/49 (89,7%).
-
Giá trị dự
báo dương tính CMN: 51/56 (91,0%).
-
Giá trị dự
báo dương tính NMN: 44/50 (88,0%).
-
Độ chính
xác chung: (51 + 44)/106 (89,6%).
BÀN LUẬN
Về lâm sàng
-
Trong
nghiên cứu của chúng tôi, CMN chiếm 55,8%, NMN chiếm 44,2%, phù hợp với
nghiên cứu của Nguyễn Bá Thắng, Nguyễn Văn Đăng. Theo Nguyễn Văn Đăng và
cộng sự, khác với trong cộng đồng (NMN thường chiếm 70-80%, CMN chiếm
20-30%); trong bệnh viện CMN chiếm khoảng 50% các trường hợp tai biến mạch
máu não. CMN thường khởi phát đột ngột cùng với rối loạn ý thức, đau đầu,
nôn, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn cơ vòng, sốt, hội chứng màng não; trong khi
NMN thường khởi phát cấp tính hoặc nặng dần và ít có các rối loạn trên.
Huyết áp tâm thu và tâm trương của BN CMN đều cao hơn so với BN NMN. Điều
này phù hợp với nhận xét của Nguyễn Xuân Thản, Nguyễn Minh Hiện, Nguyễn Bá
Thắng và một số tác giả khác.
Về cận lâm sàng
-
Tăng
glucose máu gặp 4,4% ở CMN và 7,5% ở NMN, phù hợp với nhận xét của Hoàng
Khánh và Nguyễn Hoàng Hải nhưng khác với nghiên cứu của Poungvarin và một số
tác giả nước ngoài.
-
Hình ảnh
CLVT não: vị trí tổn thương hay gặp nhất ở vùng bao trong và các nhân xám
trung ương. Phần lớn BN CMN có dấu hiệu chèn ép não thất hoặc di lệch đường
giữa trong khi phần lớn BN NMN không có dấu hiệu gián tiếp trên hình ảnh
CLVT. Chúng tôi cho rằng điều này có liên quan với tỷ lệ các triệu chứng rối
loạn ý thức, đau đầu, nôn ở CMN cao hơn NMN.
Về thang điểm Siriraj
-
Trong các
dấu hiệu chỉ điểm vữa xơ dùng trong thang điểm, đái tháo đường là triệu
chứng không có sự khác biệt giữa hai nhóm. Không có BN nào có triệu chứng đi
lặc cách hồi. Đây là những triệu chứng ít có giá trị trong chẩn đoán phân
biệt CMN và NMN ở nghiên cứu này.
-
Độ nhạy
chẩn đoán, giá trị dự báo dương tính cho CMN và NMN trong nghiên cứu này
cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Bá Thắng, Hung L.Y., Poungvarin N,
nhưng cao hơn nghiên cứu của Akpononu B.E. và cộng sự. Chúng tôi cho rằng
điểm khác biệt này có thể do nghiên cứu của Akpononu B.E. tiến hành trên BN
người Mỹ, trong khi nghiên cứu của chúng tôi và các tác giả khác nghiên cứu
trên người châu á.
KẾT LUẬN
-
CMN thường
khởi phát đột ngột (67,1%) trong khi NMN thường khởi phát cấp tính và nặng
dần (81,2%).
-
Ở CMN: rối
loạn ý thức (55,2%); đau đầu (82,1%); nôn (41,8%); rối loạn ngôn ngữ
(68,6%); rối loạn cơ vòng (47,7%); hội chứng màng não (43,2%); sốt (11,9%)
gặp nhiều hơn ở NMN (các tỷ lệ tương ứng là 22,6%; 24,5%; 3,7%; 39,6%;
22,6%; 3,7% và 0,0%).
-
Huyết áp
tâm thu và tâm trương của BN CMN (181,5 ( 33,3 mmHg và 105,1 ( 18,3 mmHg)
đều cao hơn BN NMN (156,8 ( 32,5 mmHg và 91,9 ( 16,6 mmHg).
-
Phần lớn
các BN CMN (88,0%) có các dấu hiệu di lệch đường giữa và chèn ép não thất
trên hình ảnh CLVT, trong khi phần lớn các BN NMN (92,4%) không có dấu hiệu
gián tiếp trên hình ảnh CLVT.
-
Trong các
triệu chứng của thang điểm Siriraj, đái tháo đường và đi lặc cách hồi ít có
giá trị trong chẩn đoán phân biệt CMN và NMN.
-
Độ nhạy
chẩn đoán CMN của thang điểm Siriraj là 89,4%, NMN là 89,7%.
-
Giá trị dự
báo dương tính cho CMN là 91%, NMN là 88%.
-
Độ chính
xác chung của thang điểm Siriraj là 89,6%.
-
Tỷ lệ chẩn
đoán không chắc chắn là 11,6%Ơ3
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Nguyễn Minh Hiện (1999). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp
CLVT, một số yếu tố nguy cơ và tiên lượng ở BN CMN - Luận án tiến sỹ y học,
Học viện Quân y, 1999.
2.
Nguyễn Minh Hiện, Nguyễn Xuân Thản (1998). Chẩn đoán tai biến mạch
máu não và chẩn đoán phân biệt giữa NMN và CMN bằng chỉ số Siriraj - Tạp chí
Y học quân sự, 5/1998, 13-17.
3.
Nguyễn Bá Thắng (2000). Thử nghiệm lập thang điểm lâm sàng chẩn đoán
phân biệt NMN và xuất huyết trên lều - Báo khoa học và phát triển. Số chuyên
đề phục vụ Hội nghị khoa học kỹ thuật thần kinh lần thứ 3, Hội thần kinh học
Việt Nam, 2000, 15-18.
4.
Golstein M., Barnett H.J.M., Orgogozo J.M., Satorius N., Symon L.,
Vereshchagin N.V. (1989).: Recommandations pour la prévention, le diagnostic
et le traitement des accidents vasculaires cérébaux. Rapport de
l’Organisation Mondiale de la Santé, 1989.
5.
Hui A.C.F., Wu B.
et al (2002). Lack of clinical
utility of Siriraj Stroke Score. Intern Med J., 2002, 32: 311-314.
6.
Hung L.Y., Wang P.Y., Wang Y., Chia L.G. (1995). Clinical distinction
between acute hemorrhage and acute ischemic stroke by Siriraj Stroke Score -
Chung. Hua. I. Hsueh. Tsa. Chih. Taipei, 1995, 55 (3), 248-252.
7.
Poungvarin N., Viriyavejakul A., Komontri C. (1991). Siriraj stroke
score and validation study to distinguish supratentorial intracerebral
hemorrhage from infarction - BMJ, 1991, 302, 1565-1567.
8.
Akpounonu B.E., Mutgi A.B. et al (1998). Can a clinical score aid in
early diagnosis and treatment of various stroke syndromes? - Am. J. Med.
Sci., 1998, 325 (3), 194-198.
.