|
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ MỚI CỦA ĐỘT QUỴ
Nguyễn Thi Hùng [1]
NHẬP ĐỀ
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ
trong nghiên cứu về đột quỵ, phần lớn các nhà thần kinh học đều cho rằng lĩnh
vực chẩn đoán hiện nay đã có nhiều tiến bộ vượt trội hơn lĩnh vực điều trị. Tuy
nhiên, các nghiên cứu có cơ sở khoa học lại cho thấy phòng ngừa các yếu tố nguy
cơ của đột quỵ trong các thập niên 80-90 (tăng huyết áp, đái tháo đường, rối
loạn lipid máu, cơn thiếu máu não thoáng qua…) đã góp phần làm giảm tỉ lệ tai
biến mạch máu não một cách có ý nghĩa. Với nhiều phương pháp nghiên cứu dịch tễ
học, người ta lại phát hiện thêm nhiều yếu tố nguy cơ mới của đột quỵ. Điều này
làm cho chiến lược phòng ngừa, có lẽ là biện pháp hữu hiệu và kinh tế nhất hiện
nay, trở nên phức tạp hơn.
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA ĐỘT
QUỴ
Các yếu tố nguy cơ không thể
điều chỉnh
-
Tuổi cao.
-
Nam giới.
-
Chủng tộc (Mỹ
da đen).
-
Đái tháo
đường.
-
Tiền căn đột
quỵ hay có cơn thiếu máu não thoáng qua
-
Tiền sử gia
đình có đột quỵ.
-
Aâm thổi động
mạch cảnh không biểu hiện triệu chứng.
Các yếu tố có thể điều chỉnh
một phần
-
Địa dư, khí
hậu.
-
Điều kiện kinh
tế – xã hội
Các thống kê cho thấy tỉ lệ
tái phát sau khi bị đột quỵ lần đầu là từ 3 đến 23% trong 1 năm đầu và 10% đến
53% trong 5 năm sau. Kết quả thay đổi có thể do sự khác biệt về phương pháp
nghiên cứu, sự khác biệt về tuổi, giới tính, các yếu tố trầm trọng khác đi kèm
trong các nghiên cứu thuần tập (Stroke 1994,25:958). Gần 30% bệnh nhân đã bị TIA
sẽ bị đột quỵ trong vòng 5 năm tới (Stroke 1994:1320). Các nghiên cứu dịch tễ
học về tiền sử gia đình là yếu tố nguy cơ độc lập của đột quỵ có những giới hạn
nhất định, dù trong một số trường hợp, tiền sử gia đình làm tăng nguy cơ đột quỵ
ở một số cá thể.
Dù đái tháo đường là một
bệnh chữa được nhưng khi mắc bệnh này, nguy cơ bị đột quỵ rất cao, đặc biệt ở
phụ nữ, do đó, AHA (Hội tim mạch Hoa Kỳ) sắp đái tháo đường vào yếu tố nguy cơ
không điều chỉnh được. Ơû Hoa Kỳ, trong những năm 1976 đến 1980, tiền sử đột quỵ
cao từ 2,5 đến 4 lần trên bệnh nhân đái tháo đường so với nhóm nguy cơ đường
huyết bình thường. Đái tháo đường còn làm tăng sự xuất hiện các bệnh lý tim
mạch.
Âm thổi động mạch cảnh cho
thấy có bệnh lý xơ cứng mạch nhưng không có nghĩa là động mạch cảnh sẽ bị nghẽn
tắc để đưa đến đột quỵ.
Tìm hiểu về các yếu tố nguy
cơ không thể điều chỉnh rất quan trọng cho chiến lược chăm sóc sức khỏe và
nghiên cứu bệnh nguyên. Các chương trình giáo dục và cảnh báo nguy cơ đột quỵ,
chú trọng vào các yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh, được tập trung vào các đối
tượng có nguy cơ cao để họ biết cách kiểm soát các yếu tố nguy cơ có thể chữa
trị được.
Các yếu tố nguy cơ có thể
điều chỉnh
Chủ yếu: Tăng huyết áp; bệnh
tim (đặc biệt rung nhĩ); hút thuốc lá; cơn thiếu máu não
thoáng qua.
Thứ yếu: Tăng
cholesterol/lipid huyết thanh; ít hoạt động thể lực-béo phì.
Cần nghiên cứu thêm
Uống
rượu nhiều, lạm dụng thuốc, nhiễm trùng cấp tính. Các yếu tố nguy cơ trên có thể
điều chỉnh bằng điều trị nội khoa, ngoại khoa, hay thay đổi lối sống. Trong các
yếu tố này, tăng huyết áp là quan trọng hơn cả. Tình trạng huyết áp cao thúc đẩy
quá trình xơ cứng mạch máu, làm tăng nguy cơ nhồi máu não do huyết khối xơ vữa.
Tăng huyết áp còn làm tăng nguy cơ chảy máu não và góp phần hình thành các vi
phình động mạch (phình động mạch Charcot-Bouchard).
Mối liên hệ giữa
uống rượu và đột quỵ hiện nay còn chưa rõ. Tác động của Alcohol hình như khác
nhau giữa người Nhật và người Caucase. Trong chương trình nghiên cứu về tim mạch
ỡ Honolulu, uống rượu nhiều có nguy cơ đột quỵ cao gấp 3 lần (chảy máu não và
chảy máu màng não)) so với người không uống rượu (Donahue và cs 1986). Một
nghiên cứu bệnh – chứng trên quần thể đa chủng tộc lại cho thấy uống rượu điều
độ (2 liquor, 2 lon bia hay 3 ly rượu vang mỗi ngày, tức khoảng 20 – 30 g ethyl
alcohol/ngày) có liên quan đến sự giảm nguy cơ nhồi máu não trong khi uống nhiều
rượu lại làm tăng nguy cơ (Sacco và cs, 1991).
Tăng Cholesterol máu: có mối
tương quan rõ giữa tình trạng cholesterol và bệnh mạch
vành, còn mối tương quan với đột quỵ thì chưa rõ. Tuy nhiên, hai nghiên cứu lớn
của Scandinavy và CARE cho thấy dùng Simvastatin và Pravastatin cho các bệnh
nhân có bệnh mạch vành làm giảm nguy cơ đột quỵ (giảm 32% trong nghiên cứu
CARE). Khuyến cáo của Hội đồng đột quỵ châu Aâu là nên dùng các Statin này cho
các bệnh nhân bệnh mạch vành có hàm lượng cholesterol máu cao hay trung bình.
Các yếu tố nguy cơ mới của đột quỵ
Vào năm 1999, một nghiên cứu
dịch tễ học lớn tại Hoa Kỳ (vùng bắc quận Manhattan, New York) trên 260.000 cư
dân đa chủng tộc đã phát hiện một số yếu tố nguy cơ mới của đột quỵ.
Chủng tộc
Các
người Mỹ da đen và gốc Mỹ La Tinh có nguy cơ đột quỵ cao gấp 2 lần người Canada.
Nguyên nhân chưa rõ, tuy nhiên có khả năng các yếu tố kinh tế - xã hội, sự cùng
hiện diện của nhiều yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh ở nhóm cư dân này đã có một
vai trò quan trọng.
Hoạt động thể lực
Trong nghiên cứu Framingham,
hoạt động thể lực ở người cao tuổi làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành và đột quỵ.
Nghiên cứu ở phía bắc quận Manhattan (NOMASS) cho thấy hoạt động thể lực, dù ở
mức độ nhẹ như đi bộ mỗi ngày cũng đủ là yếu tố bảo vệ cho người cao tuổi đối
với đột quỵ.
Uống rượu
Đã được đề cập đến ở phần
trên. Một điều quan trọng là uống rượu điều độ (1 đến 2 đơn vị mỗi ngày) có nguy
cơ bị đột quỵ thấp hơn người không uống gì cả.
Lipid
Nghiên cứu NOMASS cho thấy
tác dụng bảo vệ của HDL. Khi tính đến các yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp,
đái tháo đường, bệnh mạch vành, hút thuốc, chỉ số khối lượng cơ thể cũng như yếu
tố kinh tế – xã hội thì các cá thể có kèm lượng HDL cao có ít nguy cơ bị đột quỵ
hơn, (các cá thể có hàm lượng HDL từ 30 – 50mg/dl) cứ mỗi 5mg/dl tăng thêm của
hàm lượng HDL giảm gần 24% nguy cơ đột quỵ.
Lipoprotein a có liên hệ rõ
đến nguy cơ bị bệnh mạch vành và có thể là yếu tố nguy cơ quan trọng của đột
quỵ. Nó vừa có vai trò trong quá trình xơ cứng mạch và trong quá trình đông máu.
Yếu tố này rất khó kiểm soát bằng các biện pháp điều trị quy ước và chế độ ăn vì
nó bị điều hòa chặt chẽ bởi yếu tố di truyền. Nghiên cứu này ghi nhận hàm lượng
lipoprotein a cao bất thường (>30mg/dl) làm tăng 1,6 nguy cơ đột quỵ sau khi
hiệu chỉnh với tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành, hút thuốc lá, tình
trạng học vấn, tuổi, giới tính và chủng tộc. Nguy cơ dột quỵ hình như cao hơn ở
hàm lượng >50mg/dl. Tuy nhiên, cần có nghiên cứu sâu hơn về lipoprotein a trong
vai trò là yếu tố nguy cơ của đột quỵ.
Apolipoprotein-a1 và
Apolipoprotein-b là các thành phần protein chủ yếu của lipoprotein HDL và LDL.
Apolipoprotein-a1 là yếu tố bảo vệ tim còn Apolipoprotein-b là yếu tố xơ vữa
động mạch. Nghiên cứu NOMASS cho thấy hàm lượng thấp Apo-a1 làm tăng nguy cơ
hình thành mảng xơ vữa động mạch mức độ trung bình hay nặng, còn tăng hàm lượng
Apo-b có liên quan đến sự tăng nguy cơ tạo lập mảng xơ vữa. Tỷ số Apo-b/Apo-a1
>1, được các nhà tim mạch học sử dụng là dấu điểm chỉ bệnh mạch vành, cũng có
thể liên quan đến sự tạo lập mảng xơ vữa.
Tổn thương lớp nội mạc
Trong
quá trình xơ cứng mạch, người ta đã chứng minh có tổn thương lớp nội mạc mạch
máu và có liên quan rõ rệt đến sự gia tăng tần suất bệnh mạch vành và đột quỵ.
Tổn thương lớp nội mạc xảy ra do nhiều cơ chế như tăng hàm lượng hormocysteine
và tác nhân nhiễm trùng như Clamydiapneumonia. Tổn thương nội mạc kích thích quá
trình kết tập bạch cầu đơn nhân, và tạo lập mảng xơ vữa, yếu tố khởi đầu của quá
trình xơ cứng mạch, làm tăng nguy cơ bị đột quỵ.
Homocysteine
Là sản phẩm của chuyển hóa
protein. Hàm lượng Homocysteine tăng theo tuổi, suy thận mãn, thiếu hụt estrogen
và có thể tham gia vào cơ chế khiếm khuyết của mạch máu. Nồng độ homocysteine
huyết tương bị tác động bởi cả hai yếu tố di truyền và yếu tố dinh dưỡng. Nồng
độ homocysteine tăng cao, đã được biết từ 30 năm trước, là tác nhân gây ra các
rối loạn đông máu trầm trọng, đưa đến đột quỵ hay huyết khối tĩnh mạch sâu. Vào
những năm gần đây, các nhà nghiên cứu mới nhận thấy hàm lượng homocysteine tăng
trung bình có thể xảy ra trên các cá thể dị hợp tử bị khiếm khuyết men
cysthatiomine ( synthase hay có thể thiếu hụt các vitamine nhóm B (acide folic,
vit B6, vit B12). Nhiều nghiên cứu tiền cứu cũng ghi nhận có mối liên quan rõ
rệt giữa hàm lượng homocysteine tăng trung bình và đột quỵ. Một nghiên cứu mù
đôi có kiểm chứng gần đây đã cho thấy các phụ nữ tuổi từ 15 đến 44 ở trong 4
nhóm đầu có hàm lượng homocysteine cao có nguy cơ đột quỵ gấp 2 đến 3 lần so với
nhóm có hàm lượng homocysteine thấp hơn. Sự bổ sung vitamine nhóm B, đặc biệt là
acid folic có thể làm giảm hàm lượng homocysteine khi dùng liều lượng khuyến cáo
hàng ngày của FDA nhưng liều tối ưu còn chưa rõ và cũng chưa rõ là sự giảm hàm
lượng hommocysteine có làm giảm nguy cơ đột quỵ đến mức độ nào.
Nghiên cứu NOMASS
cho thấy có đến 53% người Mỹ gốc Caucase có hàm lượng homocysteine tăng
((10.5(g). Dù yếu tố nguy cơ này được sắp vào loại trung bình nhưng vì tỉ lệ
toàn bộ khá cao và vì có thể điều chỉnh được nên nó trở thành một yếu tố nguy
cơ quan trọng,
Yếu tố nhiễm trùng
Nhiễm
trùng là nguồn gốc gây tổn thương lớp nội mạc mạch máu, một số chứng cứ cho thấy
hai tác nhân hiện nay là Clamydia Pneumonia và bệnh lý nha chu, cả hai tác nhân
này đều là yếu tố điểm chỉ của nhồi máu não.
Clamydia là tác nhân thường
gặp của viêm phổi mắc phải cộng đồng, viêm hầu họng, viêm xoang. Vi trùng làm
tổn thương lớp nội mạc, làm gia tăng hiện tượng kết dính tiểu cầu, bệnh mạch
vành, nhồi máu não. Khả năng là 1 yếu tố nguy cơ của C. Pneumonia đặt ra vấn đề
có nên dùng kháng sinh điều trị và phòng ngừa xơ cứng mạch và như vậy sẽ giảm
nguy cơ nhồi máu não.
Các bệnh lý nha chu mà tác
nhân gây bệnh là vi khuẩn kỵ khí có thể cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng
của nhồi máu não. Tổn thương vùng lợi và chân răng có tỉ lệ 10 đến 20% quần thể
từ 60 đến 64 tuổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh lý nha chu làm tăng protein-C
phản ứng và làm tăng nguy cơ bệnh mạch máu não. Nghiên cứu sơ bộ của NOMASS các
cá thể có bệnh lý nha chu, mất sự kết gắn của lợi (>3,5mm), hay không có răng
thì có mảng xơ vữa động mạch cảnh trong dầy hơn.
Yếu tố di truyền
Còn
làm cho vấn đề phòng ngừa phức tạp hơn. Vai trò của yếu tố di truyền được đề cập
đến nhiều trong những năm gần đây và nhiều chứng cứ cho thấy đột quỵ cũng là một
rối loạn về di truyền.
Nghiên cứu trên các cặp
song sinh tuy ít có công trình nhưng kết quả từ NASRC thật đáng ngạc nhiên: tỉ
lệ cùng bị đột quỵ là 3,6% ở song sinh hai hợp tử và lên cao đến 17,7% ở song
sinh một hợp tử. Các nghiên cứu trên mô hình chuột cao huyết áp chuyển sang đột
quỵ và chuột có huyết áp bình thường cho thấy có tồn tại một vị trí gien nguy cơ
bị nhồi máu não.
Dịch tễ học
Nghiên cứu Framingham về dịch tễ học đột quỵ cho thấy cha mẹ bị đột quỵ thì con
cái có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn. Tuy nhiên, vấn đề tiền sử gia đình và nguy cơ
đột quỵ còn nhiều điểm phải bàn luận.
Rối loạn gien
Một
thí dụ điển hình là bệnh CADASIL (Cerebral autosomal dominant arteriopathy with
subcortical infartc and leukoencephalopathy) đây là bệnh lý mạch máu xảy ra ở
người trẻ và trung niên, không có huyết áp, có đặc điểm hình ảnh học là các ổ
nhồi máu nhỏ dưới vỏ não và bệnh lý chất trắng lan tỏa. Gien chịu trách nhiệm
bệnh CADASIL được ghi nhận ở nhiễm sắc thể 19q2. Cũng cần lưu ý đến sự tương tác
giữa gien nguy cơ đột quỵ (thí dụ loại hình gien tăng huyết áp) và yếu tố môi
trường dinh dưỡng (thí dụ khẩu phần ăn nhiều muối) sẽ làm cho nguy cơ xảy ra cao
hơn.
THƯ MỤC
BOGOUSSLAVSKY J.-
Risk Factors and Stroke Prevention - Crerebrovascular Diseases. -
10(suppl 3) 1-34 (2000).
ADAMS H.
- Prevention of Ischemic Stroke or Recurrent Ischemic Stroke (p.167-182)
- Management of Stroke (June 1999).
SACCO R.
- Newer risk factors for Stroke (S31-S34) - Neurology (vol.57 no.5
suppl.2 2001).
LLINAS R. and CAPLAN L.
- Evidence-based treatment of paitents with ischemic cerebrovascular disease
- Neurologic Clinics (vol.19 Feb.2001) |