CHỨNG THOÁI HÓA TINH
BỘT VÀ BỆNH
THẦN KINH NGỌAI BIÊN
LÊ VĂN THÀNH
Chất dạng tinh bột đã
được biết cách đây khoảng 300 năm, lúc đầu do nhà thực vật học người Đức -
Matthias Schleiden đặt tên là amyloid vào năm 1838. Vào năm 1840, William Budd
nhận xét chất này vừa giống sáp lại vừa giống mỡ. Năm 1856, Vilks mô tả một bệnh
nhân 51 tuổi có tổ chức mô như mỡ và cũng như sáp mà không do bệnh lý giang mai,
lao, viêm tủy xương. Một ca đầu tiên được Weber công bố có thoái hóa dạng tinh
bột trên bệnh nhân đau tủy. Mãi đến năm 1927 Divry và Florkin nghĩ ra cách nhuộm
tiêu bản não của một bệnh nhân Alzheimer bằng chất đỏ Công gô.
MÔ HỌC HÌNH ẢNH VI
THỂ
Bằng các thuốc nhuộm
khác nhau cho các màu sắc hơi khác nhau, nhưng phương pháp dùng màu đỏ công gô
nhuộm sẽ cho màu táo xanh. Chất dạng tinh bột xuất hiện đồng nhất và không có
hình dáng khi soi trên kính hiển vi dưới ánh sáng cực hóa.
Muốn chẩn đoán chắc chắn
cần phải tiến hành sinh thiết tổ chức có thần kinh. Dưới kính hiển vi ta thấy rõ
sự lắng chất dạng tinh bột bởi các sợi kết tập với nhau, các sợi có đường kính
7.5 - 10nm, không phân nhánh tiếp xúc với tế bào Schwann hoặc kế cận những mao
quản, các sợi có myelin nghèo nàn và hư biến trục.
PHÂN LOẠI
Có hai cách phân loại
bệnh thoái hóa dạng tinh bột trong đó có cách thứ nhất chú ý tới vị trí thương
tổn thần kinh có kết hợp với những biểu hiện bệnh lý của các tạng khác, và cách
thứ hai thì chia hai nhóm bệnh thần kinh ngoại biên gia đình và bệnh thần kinh
ngoại biên phát lẻ tẻ. (bảng 1 và 3).
Để phân biệt các loại
bệnh thoái hóa dạng tinh bột, người ta dựa trên kỹ thuật hóa miễn dịch mô để
nhận dạng từng loại protêin đặc hiệu của chất dạng tinh bột :
- kháng huyết thanh đối với chất dạng
tinh bột P giúp nhận dạng tất cả các loại bệnh thoái hóa dạng tinh bột khác
nhau;
- kháng huyết thanh đối với chất dạng
tinh bột trong thoái hóa dạng tinh bột nguyên phát (AL) (K và ()
- kháng huyết thanh đối với chất dạng
tinh bột trong thoái hóa dạng tinh bột thứ phát (AA);
- kháng huyết thanh đối với chất dạng
tinh bột trong thoái hóa dạng tinh bột di truyền hay gia đình.
Trong nhóm
bệnh thần kinh ngoại biên của thoái hóa dạng tinh bột gia đình, người ta có bổ
sung thêm gần đây một số thể di truyền trội của Nhật, Thụy Điển và Pháp. Các
trường hợp bệnh thần kinh ngoại biên của thoái hóa dạng tinh bột; có thể được
gặp trong khuôn khổ bệnh thoái hóa dạng tinh bột tiên phát hệ thống và chiếm
17% của nhóm này. Trong khi làm chẩn đoán một hội chứng thận hư hoặc một
trường hợp suy tim, những xét nghiệm sinh hóa cho phép khách quan hóa một bệnh
gamma đơn dòng lành tính rất thường gặp là loại IgG hay là một chuỗi nhẹ kappa
hay lamda biệt lập. Đôi khi bệnh lý thoái hóa dạng tinh bột lại đi kèm với một
hội chứng tăng sinh lympho ác tính loại đau tủy xương hay bệnh Waldenstrom. Cần
lưu ý là bệnh thần kinh ngoại biên không được gặp thấy trong bệnh thoái hóa
dạng tinh bột thứ phát (secondary amyloidosis). Cuối cùng là một nhóm phụ
(subgroup) không đồng nhất trong bối cảnh di truyền, chẳng bằng cớ của một bệnh
thoái hóa dạng tinh bột, tiên phát, nhất là không có bệnh lý gamma đơn dòng.
Nhóm này không thuần nhất, một mặt nói lên như một biến đổi bản chất sinh hó của
sự lắng chất bột, mặt khác thấy một vài trường hợp trong nhóm có mặt sự đột biến
gen transthyretine. Chúng ta có thể tham khảo tỷ lệ của các loại bệnh thoái hóa
dạng tinh bột này trong bảng 1.
Bảng 1. Tỷ lệ của
từng loại bệnh thoái hóa tinh bột gặp ở 985 bệnh nhân tại Mayo
Clinic, từ 1977 - 1988 (theo Kyle R.A. và Gertz M.A. 1991)
|
Loại |
Số bệnh nhân |
Tỷ lệ % |
|
Tiên phát |
699 |
71 |
|
Thứ phát |
41 |
4 |
|
Khu trú |
214 |
22 |
|
Gia đình |
31 |
3 |
|
Tổng cộng |
985 |
100 |
BỆNH THOÁI HÓA DẠNG
TINH BỘT TIÊN PHÁT
Tần xuất
Trước chiến tranh thế
giới thứ hai một số tác giả Châu Âu nhận thấy bện này trong mổ tử thi chiếm tỉ
lệ dao động từ 0,2 - 0,4%. Các tác giả Hoa Kỳ bang Minnesota đưa con số chung
cho các loại 8,5 trên 1.000.000 dân.
Biểu hiện lâm sàng
Tuổi trung bình khi được
phát hiện có chẩn đoán là 65, tuổi khởi phát từ 40 đến 50 tuổi và ba phần tư
bệnh nhân là nam giới. Thoái hóa dạng tinh bột; tiên phát biểu lộ ra dưới một
hay nhiều kiểu cách khác nhau : các triệu chứng toàn thân hay hệ thống, triệu
chứng của dây thần kinh ngoại biên, biểu lộ của tổn thương tim mạch, hội chứng
thận hư hay suy thận, và bệnh của các cơ quan khác.
Triệu chứng chức
năng và thực thể toàn thân
Yếu hay mệt và sụt cân
được gặp ở quá nửa số bệnh nhân. Dấu thực thể chính lúc phát bệnh ở đây gồm có
sưng khớp cổ chân, gan lách to, ban xuất huyết và lưỡi to. Các cơ quan đặc biệt
bị tổn thương hay các triệu chứng chính yếu của bệnh thoái hóa dạng tinh bột
tiên phát được trình bày trong bảng 2 và bảng 3.
Bảng 2. Các hội chứng
lâm sàng trong bệnh thoái hóa dạng tinh bột nguyên phát
(theo Kyle R.A và Gertz
M.A. 1990)
|
Tỷ lệ của các hội chứng % |
Thận hư |
Suy tim |
Huyết áp thấp tư thế đứng |
Hội chứng ống cổ tay |
Bệnh thần kinh ngoại biên |
|
Lúc chẩn đoán
bệnh THDTBTP |
32 |
23 |
14 |
24 |
17 |
|
Xuất hiện thêm
về sau |
3 |
11 |
6 |
1 |
1 |
Bệnh thần kinh
ngoại biên
Vào thời điểm xác định
chẩn đoán bệnh thoái hóa dạng tinh bột nguyên phát, một phần sáu bệnh nhân đã có
biểu lộ của bệnh thần kinh ngoại biên. Thường thì triệu chứng của bệnh thần kinh
ngoại biên hoặc của hội chứng ống cổ tay đã có mặt ít nhất là một năm trước khi
bệnh thoái hóa dạng tinh bột nguyên phát được chẩn đoán.
Lâm sàng
Rối loạn cảm giác chủ
quan dưới dạng dị cảm bắt đầu ở chi dưới thường là triệu chứng khởi đầu. Bệnh
nhân thường kể như tê cóng, rần rần, rát bỏng, châm chích, thường cân đối hai
bên. Khám thấy sự phân ly giữa cảm giác đau - nóng lạnh giảm và cảm giác sờ còn
bình thường. Cảm giác sâu rối loạn kín đáo ở giai đoạn đầu. Trong thời gian tiến
triển, rối loạn cảm giác lan rộng từ hai chi dưới lan lên phí trước giữa cơ thể
tới hai chi trên và tới hai bàn tay, cuối cùng lên tới đỉnh đầu. Định khu và sự
tiến triển của những rối loạn cảm giác này nói lên một thương tổn những sợi chức
năng theo chiều dài của chúng : như đã thấy ở những trường hợp bệnh lý đa dây
thần kinh sợi trục hướng lên tuần tiến như trong bệnh tiểu đường, bệnh thầnkinh
ngoại biên do rượu. Bệnh nặng hơn sẽ đưa đến mất toàn bộ các loại cảm giác ở các
ngón chi.
Rối loạn vận động thường
hay xuất hiện chậm hơn rối loạn cảm giác. Tùy từng trường hợp có người sau vài
tháng có người sau vài năm. Triệu chứng khởi đầu là mỏi và khó duỗi ngón chân
cái và rồi yếu dần, bước khó khăn, chân quét, phải dùng gậy để đi và cuối cùng
sau 10 - 15 năm không còn tự đi lại được. Hai chi trên cũng vậy, thiếu sót vận
động cũng bắt đầu từ hai bàn tay và lan dần đến gốc chi, lúc này thực sự là liệt
tứ chi. Một vài trường hợp rối loạn vận động không đối xứng, hiếm nhưng cũng có
trường hợp có các triệu chứng của đám rối thắt lưng. Rất ngoại lệ có những
trường hợp co giật bó cơ lan tỏa đơn độc, teo cơ lưỡi, co cơ và teo. Có trường
hợp vừa có triệu chứng của hành tủy và bó tháp, thể này hay gặp trong thể lâm
sàng lẻ tẻ. Rối loạn thần kinh thực vật như giảm tiết mồ hôi, rối loạn điều hòa
tim mạch, giảm huyết áp từ thế đứng, bất lực ở nam giới, liệt ruột hoặc tiêu
chảy, hay ngược lại bón nhiều.
Điện cơ
Tốc độ dẫn truyền của
thần kinh vận động thường thấp hơn bình thường một chút với biên độ của phức hợp
điện thế hoạt động của cơ giảm nhiều, và thời gian tiềm vận động bình thường.
Biên độ của điện thế hoạt động của dây cảm giác bất thường nhiều hơn so với cùng
loại của cơ, ở nhiều trường hợp đã không thể ghi nhận được điện thế hoạt động
của dây cảm giác. Điện cơ kim cho thấy sự hiện diện của các điện thế tự phát và
của các điện thế đơn vị vận động kiểu mất phân bố thần kinh.
Bệnh sinh
Bệnh sinh của rốiloạn
thần kinh ngoại biên trong bệnh thoái hóa dạng tinh bột nguyên phát chưa được
biết rõ. Sự vắng mặt của hàng rào máu - dây thần kinh ở rễ sau và hạch thần kinh
giao cảm có thể mở một lối vào cho các protein dạng tinh bột và gây nên hư hại
cấu trúc tế bào thần kinh. Giả thuyết bệnh sinh hiện hành cho rằng các chuỗi nhẹ
đơn dòng được hấp thu và xử lý sau đó bởi các đại thực bào để trở thành các tiểu
sợi dạng tinh bột. Người ta đã ghi nhận trường hợp một bệnh nhân bị bệnh gamma -
globulin lưỡng dòng IgM kappa và IgG lamda có bệnh lý thần kinh ngoại biên cảm
giác - vận động. Chính sự kết gắn của protein IgM K lên các tế bào Shwann có thể
là yếu tố gây ra sự hủy myêlin tại sợi thần kinh, trong khi đó protein IgG (
được tìm thấy trên các chất dạng tinh bột lắng tủa trong mô kẽ xen giữa các sợi
thần kinh. Dyck và Li cũng đã chứng minh rằng hình ảnh tổn thương sợi trục là
biến đổi giải phẫu bệnh học chủ yếu tại các sợi có myêlin. Sự lắng đọng chất
dạng tinh bột chung quanh các vi quản nội màng thần kinh cũng có thể gây nên
tình trạng thiếu máu và thiếu oxy cho dây thần kinh. Không nằm trong khuôn khổ
bài này nhưng chúng tôi cũng nhắc lại là sự lắng đọng chất dạng tinh bột tại các
mạch máu não là nguyên nhân của xuất huyết nào trong bệnh mạch máu não do thoái
hóa dạng tinh bột.
Bệnh học
Thoái hóa sợi trục là
tổn thương nổi bật và chủ yếu, đôi khi xuất hiện một cách ưu thế tại các sợi ít
hay không có myêlin. Chất dạng tinh bột thì hiện diện trong mô kẽ giữa các sợi
và các bó sợi, ngoài ra còn được ghi nhận trong thành vách của các mạch máu nuôi
các cấu trúc này.
Tóm tắt lại, trong giai
đoạn sớm của bệnh chất dạng tinh bột tâm nhiễm các rễ sau và các hạch giao cảm.
Chất dạng tinh bột cũng thâm nhiễm các dây thần kinh ngoại biên, nằm xen giữa
các sợi thần kinh và làm cho các sợi này bị móp méo. Các lòng mạch máu nuôi dây
thần kinh cũng bị chất dạng tinh bột ảnh hưởng. Hệ quả chủ yếu của những thay
đổi trên là sự hình thành thoái hóa sợi trục, và ở một mức độ nhẹ hơn là sự hình
thành mất myêlin từng giai đoạn.
Hội chứng ống cổ tay
Hội chứng này gặp trong
nhiều bệnh khác nhau, ví dụ như viên đa khớp dạng thấp và phù niêm, và bệnh
thoái hóa dạng tinh bột chỉ chiếm một vài phần trăm. Triệu chứng khởi đầu là dị
cảm sau đó là đau thường về ban đêm. Các rối loạn cảm giác và vận động chủ yếu
thuộc phạm vi dây thần kinh giữa. Các cơ yếu và teo là cơ bàn tay và mô cái.
Trên tiêu bản cơ thể bệnh thấy có lắng đọng chất dạng tinh bột tại các bao hoạt
dịch và cân cơ ở đây.
Các triệu chứng khác
về thần kinh
Hiếm những đã được thông
báo là các trường hợp liệt mặt ngoại biên hai bên, liệt nhiều dây sọ cả hai bên
như các dây III, V, VI, VII và XII.
Bệnh tim mạch
Suy tim ứ huyết được ghi
nhận ở 25% bệnh nhân lúc chuẩn đoán được bệnh thoái hóa dạng tinh bột và sau đó
thêm vào nhữa 10% bệnh nhân trong quá trình diễn tiến của bệnh. (Ngay cả khi
chưa có triệu chứng suy tim, siêu âm tim bất thường cũng đã hay được gặp ở các
bệnh nhân có bệnh thoái hóa dạng tinh bột, bất thường gồm có hình ảnh dày vách
tâm thất và váy liên thất, rối loạn chức năng tâm trương. Bất thường ECG gồm có
rung nhĩ, nhịp nhanh nhĩ, bloc, ngoại tâm thu thất.
Chứng đau cách hồi của
hàm và của các chi cũng đã được ghi nhận. Trong số liệu của Kyle R.A. và Gertz
M.A., 1990, huyết áp thấp tư thế đứng được ghi nhận lúc xác định chẩn đoán ở 1/6
các bệnh nhân.
Thận
Một phần ba số bệnh nhân
lúc được chẩn đoán bệnh thoái hóa dạng tinh bột đã có hội chứng thận hư. Đái máu
đại thể thì hiếm gặp trong bệnh thoái hóa dạng tinh bột.
Tổn thương các cơ
quan khác
Tổn thương ống tiêu hóa
có thể có nhiều biểu lộ khác nhau như giảm nhu động ruột, giả tắc ruột, tiêu
chảy và xuất huyết. Gan có thể to do bị nhiễm chất dạng tinh bột lắng. Viêm các
khớp, biến đổi về da - móng, giả phì đại cơ cũng là những biểu lộ khác của tình
trạng thâm nhiễm chất dạng tinh bột.
Bảng 3. Đặc điểm lâm
sàng bệnh thần kinh ngoại biên trong chứng thoái hóa dạng bột (theo Glenner,
1978 Holt, 1989)
Đặc điểm lâm sàng của
bệnh thần kinh ngoại biên của thoái hóa dạng tinh bột gia đình
|
Loại |
Trung tâm địa dư |
Tuổi phát bệnh |
Bệnh TKNB cảm giác vận động |
Rối loạn TKTV |
Tổn thương dây TK sọ |
Hc ống cổ tay |
Suy thận |
Vấn đề khác |
|
1 |
Bồ Đào Nha |
30-40 |
CD>CT |
++++ |
- |
- |
- |
Chấl lắng ở thể kính |
|
II |
Indiana Maryland |
40-50 |
CT>CD
CT>CD |
-
- |
-
- |
+++
+++ |
0
+ |
|
|
III |
Iowa |
30-40 |
CD>CT |
++ |
- |
- |
+++ |
Loét dạ dày |
|
IV |
Phần Lan |
30 |
CD>CT |
0 |
++++ |
- |
0 |
Loạn dưỡng da kết mạc... |
|
V |
Do Thái |
30 |
CD>CT |
+++ |
- |
- |
- |
Đục thủy tinh thể |
|
VI |
Vùng Appalac he Đức |
60
60 |
CD>CT
CD>CT |
+++
++ |
-
- |
-
- |
++
++ |
tim |
CD : chi dưới CT : chi
trên TKNB : thần kinh ngoại biên TKTV : thần kinh thực
vật TK : thần kinh
Đặc điểm lâmsàng của
bệnh thần kinh ngoại biên của thoái hóa dạng tinh bột phát lẻ tẻ tiên phát :
|
Tác giả |
Tuổi phát bệnh |
Bệnh TKNB cảmgiác vận động |
Rối loạn TKTV |
Tổn thương dây sọ |
Hội chứng ống cổ tay |
Suy thận |
Vấn dề khác |
|
TROTTER
1977 |
54 |
CD>CT |
+++ |
- |
+ |
+ |
Suy tim ++ |
|
KELLY
1979 |
63 |
CD>CT |
+++ |
- |
++ |
++ |
Suy tim ++ |
|
ADAMS
1990 |
62 |
CD>CT |
+++ |
- |
++ |
+ |
Suy tim
+ |
Cận lâm sàng
Về huyết học nói chung
không có gì thay đổi đặc hiệu. Khoảng 80% bệnh nhân có protein niệu nhưng test
tìm protein Bence Jones thường là âm tính. Greatinin huyết thường trên 1,3 mg/dL
ở đa số các bệnh nhân, giảm Albumin huyết được thấy ở nhưng trường hợp hội chứng
thận hư, một phần tư bệnh nhân có tăng phosphataz kiềm, tăng bilirubin máy có
thể xảy đến và là một dấu hiệu xấu về tình trạng của bệnh. Yếu tố đông máy X
giảm ở ít hơn 5% các trường hợp. Thời gian prothombin tăng ở 15% và thời gian
thrombin kéo dài ở 60% các bệnh nhân.
Phân nửa các bệnh nhân
có một băng khu trú trên điện di protein huyết thanh. Giảm thấp gammaglobulin
huyết được ghi nhận ở một phần tư các bệnh nhân. Lượng IgG huyết thanh giảm ở
phân nửa số bệnh nhân, trong khi đó lượng IgA và IgM thì bình thường. Xét nghiệm
điện di miễn dịch hay xét nghiệm cố định miễn dịch (immunofixation) cho thấy ở
hai phần ba bệnh nhân bị bệnh thoái hóa dạng tinh bột tiên phát có sự diện của
một protein đơn dòng (monoclonal protein). Khoảng 20% các bệnh nhân này có chuội
nhẹ đơn dòng tự do (protein Bence Jones trong máu), và 45% bệnh nhân có phân tử
immunoglobulin đơn dòng nguyên vẹn trong huyết thanh.
Gamma máu giảm ở ¼ bệnh
nhân, mức độ IgG huyết tương giảm trong một nữa số trường hợp. IgA và IgM luôn
bình thường 20% có chuỗi đơn dòng tự do. Hai phần ba các bệnh nhân bị bệnh thoái
hóa dạng tinh bột tiên phát có chuỗi nhẹ lambda trong huyết thanh, trong khi đó
chuỗi nhẹ kappa thì hiện diện trong huyết thanh của hai phần ba các bệnh nhân có
bệnh đa u tủy hay bệnh gammaglobulin đơn dòng không rõ lý do (monoclanal
gammopathy of undetermined signigicance : MGUS)
Các xét nghiệm miễn dịch
điện di và cố định miễn dịch phát hiện chuỗi nhẹ đơn dòng ở nước tiểu của hai
phần ba bệnh nhân có bệnh thoái hóa dạng tinh bột tiên phát. X quang hệ xương
đôi khi cho thấy hình ảnh hủy xương do lắng đong của chất dạng tinh bột.
Chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh thoái hóa
dạng tinh bột tiên phát dựa trên sự phát hiện tụ lắng của chất dạng tinh bột
trong các mô. Phẩm nhuộm được dùng nhiều nhất là đỏ Congo cốn cho màu táo xanh
lưỡng xạ dưới ánh sáng cực hóa. Phương pháp dùng phẩm nhộm metachromatic cũng
hữu dụng, đặc biệt là methyl violet nhuộm mẫu sinh thiết dây thần kinh cảm giác
bắp chân có định trong paraffin. Kính hiển thị điện tử có thể giúp nhìn thấy các
tiểu sợi chất dạng tinh bột trong những trường hợp mà đỏ Congo và nhuộm
metachromatic âm tính, tuy nhiên đây là phương pháp xét nghiệm tốn kém.
Có thể dùng kháng huyết
thanh đối với chất dạng tinh bột P để xác định chẩn đoán bệnh thoái hóa dạng
tinh bột nói chung. Các kháng huyết thanh đối với từng loại chất dạng tinh bột
AA, AK, A(, AF và AS sẽ được dùng sau đó để định danh từng loại chất bột.
Bệnh phẩm cần thiết cho
chẩn đoán cần được lấy đầy đủ. Hút mỡ bụng cho kết quả dương tính trong hơn 70%
các trường hợp. Sinh thiết tủy xương cho kết quả dương tính trong khoảng phân
nửa số bệnh nhân. Sinh thiết trực tràng cho kết quả dương tính trong 80% các
trường hợp và cần được thực hiện trong trường hợp hai phương pháp trước âm tinh.
Một số cơ quan khác cũng có thể là mục tiêu của sinh thiết chẩn đoán bệnh :
thận, gan, dây thần kinh bắp chân, ruột non, da, tuyến tiền liệt, niêm mạc dạ
dày, và mô lấy từ phẩu thuật giải ép ống cổ tay.
Tóm lại, cần nghĩ đến
bệnh thoái hóa dạng tinh bột tiên phát khi bệnh nhân có protein đơn dòng trong
huyết thanh và nước tiểu mà lại có thêm các triệu chứng của một bệnh thần kinh
ngoại biên cảm giác vận động, và nhất là khi có cả sự hiện diện của những rối
loạn thần kinh thực vật đi kèm. Sự hiện diện của protein đơn dòng đi kèm với các
hội chứng lâm sàn như hội chứng ống cổ tay, hội chứng thận hư, suy tim, gan lách
to, hay hội chứng kém hấp thu vô căn cũng rất gợi ý đến loại bệnh thoái hóa này.
Tiên lượng
Tùy thuộc vào phát hiện
bệnh sớm hay muộn, thường vài năm cuối cùng không vận động tự lập được. Tiên
lượng còn tùy thuộc vào từng loại hội chứng riêng biệt. Chết thường do những
bệnh suy thận, suy tim.
Điều trị
Cho đến nay điều trị chủ
yếu là điều trị triệu chứng thuốc giảm đau thông thường, amitriptyline và
fluphenazine, dùng lâu gây tác dụng phụ như rối loan vận động. Các thuốc chứa
codeine làm giảm triệu chứng đau nhưng lâu dài sẽ gây lệ thuộc thuốc. Với hội
chứng ống cổ tay có thể phẩu thuật giải áp kết quả đau giảm nhưng rối loạn cảm
giác không hồi phục, vận động hồi phục phần nào, nhưng cũng có trường hợp sau mổ
tổ chức sẹo tái tạo gây nên tái phát. Với chứng hạ huyết áp tư thế đứng có thể
dùng dihydroergotamine, 9 alpha- flyoroghyrocortisone, băng hai chi dưới và cấp
cứu những trường hợp ngất.
Với trường hợp bệnh
protein đơn dòng tiên phát có thể dùng colchicine, nếu có kèm theo bệnh
gammaglobulin đơn dòng người ta có thể làm chậm sự phát triển của bệnh bằng hóa
trị liệu với melphalan phối hợp với prednison.
Bệnh thoái hóa dạng
tinh bột gia đình
Ngoại trừ bệnh thoái
dạng tinh bột gia đình trong chứng sốt miền Địa Trung Hải vốn có kiều hình di
truyền ẩn theo ôtôzôm, tất cả các bệnh thoái dạng tinh bột gia đình khác đều
mang kiểu hình di truyền trội theo ôtôzôm. Các bệnh thoái dạng tinh bột gia đình
này được xếp loại tùy theo cơ quan bị tổn thương và gồm có thể có tổn thương
thần kinh, thể có tổn thương tim, thể có tổn thương thận và các thể tổn thương
khác. Cho đến 1993, người ta đã phân lập được 6 thể bệnh thần kinh ngoại biên có
liên quan với chứng thoái hóa dạng bột gia đình mà các đặc điểm lâm sàng được
trình bày tóm tắt trong Bảng 4.
Bệnh sinh
Bất thường chủ yếu trong
các bệnh thần kinh ngoại biên thoái hóa dạng bột di truyền này là sự hình thành
một biến thể bất thường của chất trasthyretin (một prealbumin) do sự đột biến
xảy ra trên gen mã hóa cho transthyretin, ở người gen này nằm trên nhiễm sắc thể
18q11.2 ( 18q12.1.
Bệnh học
Bất thường giải phẩu
bệnh học chủ yếu là sự mất có chọn lọc của các sợi nhỏ không myêlin hay có
myêlin với những đám chất dạng tinh bột lắng tụ trong các bó sợi, với hình ảnh
thoái hóa mylêlin từng đoạn, thoái hóa Waller ở sát cảnh bên.
Điều trị
Hiện chưa có khả năng
điều trị đặc hiệu cho các thể bệnh gia đình này. Các phương pháp điều trị đang
có chỉ mang tính chất thuần túy đối phó triệu chứng.
|