|
Giới thiệu sản phẩm
| |
MỨC HOMOCYSTEINE HUYẾT TƯƠNG
TĂNG Ở NHỮNG BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ BẰNG LEVODOPA.
Liên quan với bệnh mạch máu
John D. Rogers, MD; Anna
Sanchez-Saffon, BA; Alan B. Frol, PhD; Ramon Diaz-Arrastia, MD, PhD. Elevated
plasma homocystein levels in patients treated with levodopa. Arch Neurol/vol 60,
Jan 2003, p59-63.
Người dịch : BS Bạch
Thanh Thủy
Tổng quan: Homocysteine máu
là yếu tố nguy cơ đối với bệnh mạch máu và là yếu tố nguy cơ tương
đối đối với bệnh sa sút trí tuệ và trầm cảm. Nguyên nhân thông thường nhất gây
tăng homocysteine máu là thiếu axit folic và vitamine B12. Tuy vậy các bệnh nhân
bị bệnh Parkinson (PD) có thể bị tăng homocysteine máu do methyl hóa levodopa và
dopamin bởi catechol O-methyltransferase, một enzym sử dụng
S-adenosylhomocysteine như là một chất cho methyl và enzym này nhường
adenosylhomocysteine. Vì adenosylhomocysteine được biến đổi nhanh thành
homocysteine, nên điều trị bằng levodopa có thể làm cho bệnh nhân bị tăng nguy
cơ bị bệnh mạch máu do tăng mức homocysteine.
Mục đích: Xác định xem tăng
homocysteine trong huyết tương do điều trị bằng levodopa có liên quan
với tăng tần suất bệnh động mạch vành (CAD) hay không, và xác định xem acid
folic và vitamin B12 có vai trò gì đối với tăng homocysteine máu gây ra bởi
levodopa.
Thiết kế và phương pháp:
Nghiên cứu gồm 235 bệnh nhân bị PD được theo dõi trong một bệnh viện
điều trị các rối loạn vận động. Trong số này, 201 bệnh nhân được điều trị bằng
levodopa và 34 bệnh nhân thì không. Các mẫu máu đã được lấy để kiểm tra mức
homocysteine, folate, cobalamin và acid methylmalonic. Bệnh sử bệnh động mạch
vành (các lần nhồi máu cơ tim trước đây, ghép bắc cầu động mạch vành hoặc phẫu
thuật tạo hình mạch vành) được hồi cứu. Chúng tôi đã phân tích các dữ liệu định
lượng bằng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (one way ANOVA) hoặc phép
kiểm t, các dữ liệu phân nhóm được xử lý bằng phép kiểm chính xác Fisher hoặc
phép kiểm chi bình phương.
Kết quả: Giá trị trung bình
( độ lệch chuẩn của mức homocysteine ở những bệnh nhân được điều trị
bằng levodopa (16,1(6,2 (mol/l) cao hơn so với những bệnh nhân không dùng
levodopa (12,2(4,2 (mol/l; P<0,001). Chúng tôi không thấy có sự khác biệt giữa
hai nhóm về nồng độ folat, cobalamin hoặc acid methylmaloic trong huyết tuơng.
Các bệnh nhân trong nhóm (quartile) có mức homocysteine cao hơn ((17,7 (mol/l)
có sự gia tăng tần xuất bị bệnh động mạch vành (nguy cơ tương đối = 1.75;
khoảng tin cậy 95% = 1.08-2.70; P=0.04).
Kết luận: Levodopa liệu pháp
thường dùng trong bệnh parkinson là một nguyên nhân gây tăng
homocysteine máu ở những bệnh nhân parkinson. Thiếu acid folic hoặc vitamin B12
không cắt nghĩa được việc tăng homocysteine ở những bệnh nhân này. Theo hiểu
biết của chúng tôi, đây là thông báo đầu tiên cho biết tăng homocysteine máu do
levodopa có liên quan với tăng nguy cơ bị bệnh mạch vành. Kết quả này có quan hệ
với việc điều trị các bệnh nhân bệnh parkinson có nguy cơ bị bệnh mạch máu và
nguy cơ tiềm ẩn bị sa sút trí tuệ và trầm cảm.
Tăng mức homocysteine-một acid amin chứa sulfur
trong huyết tương là một yếu tố nguy cơ nổi bật đối với bệnh mạch máu, bao gồm
bệnh động mạch vành (CAD), đột quị, bệnh mạch máu ngoại vi và huyết khối tĩnh
mạch. Gần đây hơn, tăng homocysteine máu đã được ám chỉ như là một yếu tố nguy
cơ bị bệnh Alzheimer và liên quan với thiếu hụt nhận thức nhẹ ở những người lớn
tuổi không sa sút trí tuệ và các rối loạn cảm xúc. Tăng mức homocysteine huyết
tương do sự tác động phức tạp của các yếu tố di truyền và mắc phải, nhưng về
định lượng, quan trọng nhất là thiếu folat, vitamin B12 và vitamin B6. Mới đây
nhiều thông báo đã ghi nhận rằng các bệnh nhân bị bệnh parkinson có mức
homocysteine huyết tương tăng rõ rệt. Trong bệnh parkinson, tăng homocysteine có
thể do điều trị bằng levodopa hơn là do thiếu vitamin. Một con đường quan trọng
của chuyển hóa levodopa là sự methyl hoá bởi men catecol O-methyltransferase
(COMT). Một enzym sử dụng S-adenosylmethionine như một chất cho methyl và enzym
này nhường S-adenosylhomocysteine (SAH). Vì SAH được biến đổi nhanh chóng thành
homocysteine, điều trị levodopa có thể làm cho bệnh nhân bị tăng nguy cơ bị bệnh
mạch máu do tăng mức homocysteine.
Mặc dầu nhiều nhóm đã thông báo mức
homocysteine huyết tương tăng trong những bệnh nhân bị PD, mối liên quan giữa
tăng homocysteine máu, điều trị levodopa và mức vitamin vẫn chưa được đánh giá
rõ ràng. Những nghiên cứu trước đây được thực hiện trên những bệnh nhân châu Âu
và Nhật Bản, những người không được dùng vitamin bổ xung vào thực phẩm, đã được
bắt đầu từ tháng 1/1998 tại Nhật dưới sự giám sát của ủy ban quản lý thuốc và
thực phẩm My (FDA). Hiệu quả của việc cung cấp vitamin trong tăng homocysteine
máu mà không cần đơn của bác sỹ cũng như vậy, chưa được đánh giá. Hơn nữa, mặc
dù việc tăng mức homocysteine được thấy trong bệnh nhân PD là trong khoảng tiên
lượng nguy cơ tăng đối với CAD và đột quị, các nghiên cứu trước đã không xác
định tần suất của bệnh mạch máu trong những bệnh nhân bị PD và tăng homocysteine
máu. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để xác định xem việc tăng homocysteine
trong huyết tương ở bệnh nhân bị PD có liên quan với CAD hay không, và làm sáng
tỏ vai trò của folate và vitamin B12 trong chuyển hoá homocysteine trong những
bệnh nhân này.
PHƯƠNG PHÁP
Các bệnh nhân đã được
chọn lựa từ cơ quan quản lý bệnh nhân parkinson. Các bệnh nhân đã được theo dõi
tiếp trong một bệnh viện đặc biệt ở New York, NY, từ 1993 tới 2001. Cơ quan đăng
ký gồm có 411 bệnh nhân và mức homocysteine đã được xét nghiệm ở 239 người.
Trong đo,ù 34 người (14,2%) chưa bao giờ được điều trị bằng levodopa (21 người
được điều trị bằng các thuốc đồng vận dopaminergic khác và 13 người không được
điều trị bất kỳ thuốc dopaminergic nào) và 205 người (85,8%) đã được điều trị
bằng levodopa. Chúng tôi cũng tập hợp các thông tin về tuổi, giới, dân tộc,
thuốc điều trị, thời gian bệnh, sử dụng các vitamin. Các thông tin về CAD (các
lần nhồi máu cơ tim trước đây, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, tạo hình mạch
vành) được thu thập thông qua bệnh nhân và từ các ghi chép của bệnh viện vào
thời điểm xét nghiệm mức homocysteine.
Các mẫu máu đã được lấy từ tĩnh mạch ngoại vi
và được làm lạnh ngay lập tức. Mức homocysteine huyết thanh đã được xác định
bằng phương pháp thử nghiệm miễn dịch huỳnh quang phân cực, dùng dụng cụ Imx
(Abbott Laboratories, Chicago Ill). Những thay đổi mức homocysteine huyết thanh
trong mỗi cá nhân ở các điều kiện này là nhỏ với hệ số biến thiên nhỏ hơn 10%.
Chúng tôi đã xác định mức folat và vitamin B12 bằng phương pháp thử nghiệm miễn
dịch và mức acid methylmalonic bằng phương pháp ghi sắc khí/phương pháp quang
phổ khối. Chúng tôi đã phân tích các dữ liệu bằng phương pháp phân tích phương
sai một yếu tố (ANOVA) hoặc 2-tailed t test và dữ liệu được chuẩn hoá bằng test
chính xác Fisher hoặc test (2. Phân tích hồi qui đa tuyến đã kiểm tra vai trò
kết hợp của tuổi, thời gian sử dụng levodopa và mức folate và vitamin B12 với
mức homocysteine. Vì sự phân bố các giá trị homocysteine bị lệch dương, phép
biến đổi logarit thông thường đã được dùng trong test thống kê để chuẩn tốt hơn.
Phân tích thống kê đã được thực hiện bằng chương trình InStat, version 3.0
(GraphPad Software, San Diego, Calif), hoặc SPSS, version 10.1 (SPSS Inc,
Chicago, Ill).
KẾT
QUẢ
Bảng
1. Hiệu quả của điều trị levodopa**.
|
Biến cố |
Nhóm không điều trị levodopa |
Nhóm điều trị levodopa |
Giá trị P |
|
Tuổi
Tỉ lệ nam(%)
Tuổi lúc chẩn đoán
Thời gian bị bệnh
Thời gian điều trị bằng levodopa
Mức homocystein toàn bộ ((mol/l)
Mức homocystein toàn bộ được điều
chỉnh so với tuổi và giới ((mol/l)
Folat (ng/ml)
Vitamin B6 (pg/ml)
Acid methylmalonic (mmol/l)
|
65,2±13,6
50
59,1±12,5
4,8±1,9
…
12,2±4,2
14,4±4,0
18,7±2,7
564,8±293,9
321,1±270,7 |
72,7±10,6
61
63,4±12,2
8,9±5,3
5,5±4,4
16,1±6,2
15,7±1,9
17,7±6,1
566,5±378,0
383,0±270,7
|
.003*
.26
.o8
.003*
<.001*
.001*
.35
.98
.35 |
**: số liệu được tính: trung bình ( SD trừ khi
được chỉ ra theo cách khác.
*: có ý nghĩa.
Như đã thấy, các bệnh nhân được điều trị bằng
levodopa thì lớn tuổi hơn và tuổi lúc được chẩn đoán parkinson thì lớn hơn nhóm
không được điều trị levodopa khoảng 4 năm (bảng 1). Thời gian điều trị levodopa
trung bình khoảng hơn 5 năm. Mức homocysteine huyết thanh trung bình tăng 31%
trong nhóm bệnh nhân được điều trị levodopa (P,.001; bảng 1). Vì tuổi và giới
nam tăng thì liên quan độc lập với mức homocysteine tăng nên mức homocysteine
đã được điều chỉnh với tuổi và giới. Sau khi điều chỉnh, sự khác biệt mức
homocysteine giữa hai nhóm vẫn có ý nghĩa ở mức cao (bảng 1).Chúng tôi đã không
tìm thấy sự khác biệt giữa hai nhóm về nồng độ cobalamin và folat trong huyết
thanh. Hơn nữa, chúng tôi không thấy có sự tương quan giữa mức acid
methylmalonic và mức homocysteine huyết thanh.
Nồng độ homocysteine huyết thanh trong những
bệnh nhân được điều trị bằng levodopa không đi theo đường phân bố Gauss. Hình 1
chỉ ra rằng đường cong của những bệnh nhân được điều trị bằng levodopa đã dời
sang bên phải khoảng 3,7 (mol/l. Thêm nữa, một nhóm phụ những bệnh nhân được
điều trị bằng levodopa tạo thành 20% tập hợp, có mức homocysteine ít nhất
20(mol/l. Chỉ 2 bệnh nhân (6%)không dùng levodopa có mức homocysteine tăng tương
tự (tỉ lệ chênh lệch, 4.0; P=0.05).
Để phân tích kỹ hơn vai trò của nồng độ
vitamin đối với mức homocysteine huyết thanh, chúng tôi đã phân mức
homocysteine thành các nhóm (quartile) (bảng 2). Phân tích phương sai một yếu tố
đã chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm theo tuổi, thời gian bị bệnh,
nồng độ vitamin B12 và folat. Tuổi tại thời điểm chẩn đoán bệnh đã cho thấy
không có ý nghĩa (p=0,60). Những kết quả này gợi ý rằng tuổi già hơn, thời gian
bị bệnh dài hơn hoặc điều trị bằng levodopa và mức thấp của vitamin B12 và
folat là yếu tố nguy cơ bị tăng homocysteine máu. Vì phần lớn những người không
điều trị bằng levodopa đã có nồng độ homocystein ở nhóm thấp nhất, đã có sự khác
biệt trong việc sử dụng levodopa giữa nhóm trên và 3 nhóm thấp nhất. Tuy vậy,
chúng tôi không thấy sự khác biệt khi so sánh nhóm cao nhất với hai nhóm ở giữa.
Tuổi, thời gian dùng levodopa và mức vitamin B12 đã là những yếu tố quan trọng
đối với nồng độ homocystein trong phép hồi quy đa tuyến, nhưng ngược lại vai trò
của mức folate thì chưa quan trọng.
Bảng 2. phân nhóm (quartile) dựa theo mức homocysteine
|
|
Quartile 1 |
Quartile 2 |
Quartile 3 |
Quartile 4 |
Giá trị P* |
|
Mức homocysteine
((mol
Trung bình±
SD
Phạm vi
Tuổi, năm
Tuổi lúc chẩn đoán,
năm
Thời gian bị bệnh,
năm
Điều trị bằng
Levodopa, %
Thời gian điều trị,
năm
Mức Polat, ng/ML
Mức Vitamin B12 ,
pg/ML
Acid Methylmalonic,
mmol/L
Sử dụng
Multivitamin, %
Bệnh nhân bị CAD, %
biết
Nguy cơ tương đối bị
CAD (95% CI) |
0.4±1.3
6.0-11.2
66.9±12.5
59.8±12.5
6.8±4.6
29
2.9±3.3
18.8±3.3
703.4±483.1
344.2±302.6
75
30
0.874 (0.507-1.507) |
12.7±0.8
11.3-14.0
71.6±12.2
64.6±12.4
7.4±4.8
87
4.4±4.1
17.9±3.8
523.8±242.1
228.2±127.9
80
22
0.627 (0.312-1.259) |
15.8±1.1
14.1-17.6
72.4±11.5
62.9±12.3
8.9±5.0
92
5.7±v5.3
18.7±8.1
503.8±299.3
437.2±230.8
68
32
0.938 (0.547-1.611) |
23.7±6.0
11.7-46.7
75.6±9.2
64.8±11.4
9.7±6.0
94
6.1±6.8
15.8±4.7
475.2±243.0
432.6±280.4
62
48
1.705 (1.075-2.703) |
NA
NA
<.001**
.17
.03**
<.001**
.02**
<.001**
.01*
.16
.19
.04*
.04**
|
NA: không áp dụng
(not applicable).
*: dựa trên sự so
sánh quartile 4 với các quartile 1-3.
**: có ý nghĩa
(consudered significant)
Vì mức folate và cobalamin thấp là nguyên nhân
thông thường nhất gây tăng homocystein máu trong dân số, nên chúng tôi đã nghiên
cứu mối liên quan giữavitamin và mức homocystenie trong nhóm bệnh nhân bị PD của
chúng tôi. Không có bệnh nhân nào có triệu chứng chuẩn của thiếu hụt folate
(<2.6ng/ml [<5.9nmol/l]), và chỉ có 3 bệnh nhân (1 trong nhóm có mức homocystine
thấp nhất và 2 trong nhóm cao nhất) có triệu chứng chuẩn của thiếu cobalamin
(<211 pg/ml). Tuy nhiên, mặc dù tất cả các nhóm (quartile) có mức folate và
vitamin B12 trung bình nằm trong giới hạn tham khảo, nhưng những bệnh nhân có
mức homocysteine huyết thanh cao nhất thì có nồng độ trung bình trong máu của cả
hai loại vitamin thấp hơn (bảng 2). Nồng độ trung bình của các vitamin cao có
thể phần nào do phần lớn các bệnh nhân đã sử dụng multivitamin không cần đơn của
bác sỹ. Việc có dùng các vitamin đã không liên quan với mức homocysteine trong
nhóm bệnh nhân của chúng tôi. Các bệnh nhân đã sử dụng nhiều loại chế phẩm
multivitamin và chúng tôi đã không thể xác định liều lượng của các vitamin đã
được dùng.
|
 |
Hình 1: Sự
phân bố các mức homocysteine huyết thanh ở những bệnh nhân điều trị bằng
levodopa và những bệnh nhân không điều trị bằng levodopa
q
Nhóm không điều trị
bằng levodopa.
§
Nhóm không điều trị
bằng levodopa.
|
Nhiều thông báo
đã chỉ ra rằng nồng độ homocysteine huyết thanh lớn hơn 14 (mol/l có liên quan
với xu hướng tăng gấp đôi nguy cơ bị bệnh mạch máu, bao gồm CAD. Vì một nửa số
bệnh nhân của chúng tôi có mức homocysteine huyết thanh ở mức này, chúng tôi đã
xác định xem có hay không có việc tăng homocysteine huyết thanh do điều trị bằng
levodopa (điều này có thể do một cơ chế khác chứ không phải do tăng homocysteine
máu trong dân số nói chung) có liên quan tới tăng yếu tố nguy cơ bị CAD. Tần
suất toàn bộ CAD trong nhóm những bệnh nhân lớn tuổi này thì cao (33%). Các bệnh
nhân trong nhóm có mức homocysteine huyết thanh cao nhất ((17.7 (mol/l có nguy
cơ tương đối bị CAD là 1.7 so sánh với 3 nhóm khác (CI 95%, 1.08-2.7; P=.04)
(hình 2). Chúng tôi đã không thấy tăng yếu tố nguy cơ bị CAD ở những bệnh nhân
bị tăng mức homocysteine huyết thanh do sử dụng levodopa trong phạm vi từ
14.1-17.6 (mol/l, các mức có liên quan với CAD ở những bệnh nhân khác. Các số
liệu của chúng tôi đã không cho phép chúng tôi xác định thời gian hoặc độ trầm
trọng của CAD trong các bệnh nhân của chúng tôi.
|
 |
Hình 2: nguy cơ tương đối bị bệnh động
mạch vành ở các nhóm bệnh nhân theo mức homocysteine. Các nhóm bệnh nhân
có bất kỳ bệnh sử CAD (các lần nhồi máu cơ tim trước đây, phẫu thuật bắc
cầu mạch vành, phẫu thuật tạo hình mạch vành) được thống kê theo nhóm
dựa theo mức homocysteine. Chúng tôi đã tính nguy cơ tương đối (độ tin
cậy 95%) bằng cách so sánh với 3 nhóm khác, sử dụng test chính xác
Fisher. |
BÀN LUẬN
Trong 10 năm qua, người ta đã chú ý nhiều đến
vai trò của homocysteine, coi nó như một yếu tố nguy cơ có khả năng thay đổi dễ
dàng đối với bệnh mạch máu bao gồm CAD, bệnh động mạch ngoại vi và đột quị. Một
siêu phân tích gồm 27 nghiên cứu đã kết luận rằng 10% các yếu tố nguy cơ là do
tăng mức homocysteine và mức homocysteine huyết thanh tăng 5 (mol/l thì tương
đương với tăng mức cholesterol huyết thanh 20mg/dl (0.5 mmol/l). Sự quan sát này
đã thúc đẩy nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên lớn có kiểm chứng để xác định xem có hay
không việc sử dụng vitamin nhằm làm giảm mức homocysteine thấp hơn để làm giảm
nguy cơ bị bệnh mạch máu. Mới đây trong một thử nghiệm phòng ngừa thứ phát,
người ta thấy rằng mức homocysteine hạ thấp đã làm giảm có ý nghĩa nguy cơ tái
hẹp động mạch vành và cải thiện hậu quả lâm sàng sau thủ thuật tạo hình mạch
vành. Mức homocysteine tăng lên cũng được xém như là một yếu tố nguy cơ bị bệnh
Alzheimer, trầm cảm, và suy giảm nhận thức ở những bệnh nhân lớn tuổi không có
sa sút trí tuệ. Như vậy, phương pháp điều trị dẫn đến tăng mức homocysteine sẽ
làm cho bệnh nhân có khả năng bị tăng nguy cơ mắc bệnh mạch máu và các rối loạn
thần kinh tâm thần khác.
Trong cộng đồng nói chung, nguyên nhân thông
thường nhất gây tăng mức homocysteine là thiếu folat, vitamin B6 và vitamin B12.
Các số liệu từ nghiên cứu Framingham chỉ ra rằng nồng độ của một hoặc nhiều các
vitamin nhóm B này trong huyết thanh không đầy đủ là nguyên nhân gây ra tới 67%
các trường hợp tăng mức homocysteine. Tuổi cao, giới nam và các yếu tố mắc phải
khác cũng là nguyên nhân thông thường gây tăng homocysteine máu. Các yếu tố di
truyền thông thường bao gồm các chứng đa hình thái của các đơn nucleotide trong
men methylenetetrahydrofolate reductase (đa hình thái C677T MTHFR), methionine
synthase (chứng đa hình thái A56G MS), và cystathionine (-synthase (chứng đa
hình T833 CBS) cũng có thể dẫn đến tăng homocysteine ở một số bệnh nhân.
Một nguyên nhân gây tăng homocysteine máu mắc
phải quan trọng là điều trị levodopa. Levodopa và dopamin được chuyển hóa một
phần bởi sự methyl hóa, một phản ứng được xúc tác bởi men COMT. Enzym này sử
dụng S-adenosylmethionine như một chất cho methyl tạo adenosylhomocysteine
(SAH), chất này sau đó biến đổi thành homocysteine nhờ men SAH hydrolase.
Homocysteine có thể tái methyl hóa thành methionine nhờ men methionine synthase,
một phản ứng sử dụng methylenetetrahydrofolate như là một chất cho methyl và
cobalamin như là một đồng cơ chất. Homocysteine có thể được bài tiết qua nước
tiểu sau khi chuyển hóa bởi con đường chuyển sulfur (transulfuration) qua sự kết
hợp với serine để tạo thành cystathionine. Phản ứng này được thúc đẩy bởi men
cystathionine (-synthase và dùng pyridoxal phosphate như một đồng cơ chất. Như
vậy khi sử dụng levodopa, tăng mức homocysteine có thể do 3 cơ chế sau đây, các
cơ chế này không loại trừ lẫn nhau và có thể cùng tồn tại trong bất kỳ bệnh nhân
nào: (1) thúc đẩy sự tạo thành SAH bởi men COMT, (2) Giảm tái methyl hóa
homocysteine, điều này có thể do sự kiệt quệ nhóm methyl, thiếu tương đối folate
và vitamin B12 hoặc về mặt di truyền được xác định thiếu methionine synthase
hoặc methylenetetrahydrofolate reductase, (3) thiếu con đường chuyển sulfur,
điều này có thể do thiếu vitamin B6 hoặc về mặt di truyền thiếu cystathionine
(-synthase. Hiểu được những con đường quan trọng gây tăng homocysteine máu
trong quá trình điều trị bằng levodopa là một bước quan trọng trong chiến lược
phòng ngừa nó.
Nhiều nhóm nghiên cứu đã phân tích mức
homocysteine trong những bệnh nhân được điều trị bằng levodopa. Allain và cộng
sự đã thấy rằng các bệnh nhân bị PD có mức homocysteine trung bình cao hơn 48%
so với nhóm chứng, nhưng nhóm chứng trong nghiên cứu của họ thì không có bệnh
nhân bị PD, làm cho nó không thể phân biệt được hiệu quả điều trị xuất phát từ
các yếu tố liên quan tới bệnh chính. Người ta cũng chưa biết rõ trong nghiên cứu
của họ có hay không nhóm chứng phù hợp về tuổi với nhóm bị PD. Kuhn và cộng sự
đã công bố kết quả của họ, nhưng nhóm chứng phù hợp về tuổi trong nghiên cứu của
họ cũng không có bệnh nhân bị PD. Muller và cộng sự đã khẳng định những kết quả
này và lần đầu tiên dùng những bệnh nhân bị PD không được điều trị như là nhóm
chứng phù hợp về tuổi, giới, thấy rằng điều trị PD là nguyên nhân gây tăng
homocysteine máu. Dường như không có thông tin nào được cung cấp về thời gian
bệnh, mức vitamin, hoặc tần xuất bệnh mạch máu trong báo cáo của họ. Yasui và
cộng sự đã khẳng định những kết quả này ở các bệnh nhân người Nhật, và trong lần
đầu tiên mức folate và vitamin B12 đã được phân tích. Họ đã thấy rằng mức
vitamin trung bình ở những bệnh nhân bị PD là trong phạm vi cho phép, nhưng đã
không thông báo mức vitamin ở những bệnh nhân thuộc nhóm chứng không bị PD.
Nghiên cứu này đã thấy rằng mang kiểu gen T/T MTHFR dẫn đến mức homocysteine
huyết thanh cao hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng levodopa.
Có khả năng kết quả thú vị nhất trong nghiên
cứu của chúng tôi là thấy rằng ở những bệnh nhân được điều trị bằng levodopa
tăng homocysteine liên quan với tăng nguy cơ bị CAD. Mặc dầu nguy cơ tương đối
là vừa phải(gấp 1.7), nhưng tần xuất CAD lại cao trong nhóm người cao tuổi này;
như vậy homocysteine tăng đi kèm với các nguy cơ tiềm ẩn. Các yếu tố khác như là
tuổi và mức folat, vitamin B12 thấp tương đối kết hợp với dùng levodopa, có khả
năng đã góp phần làm tăng homocysteine. Tuy vậy, chúng tôi tin tưởng rằng điều
trị bằng levodopa đã là yếu tố nổi bật gây tăng homocysteine máu. Thứ nhất,
chúng tôi đã không tìm thấy mức homocysteine cao có thể so sánh ở những bệnh
nhân bị PD mà không được điều trị levodopa ngay cả sau khi điều chỉnh sự khác
biệt tuổi tác giữa hai nhóm. Thứ hai, các nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra rằng
điều trị bằng levodopa liên quan với tăng mức homocysteine bất chấp sự khác biệt
về tuổi. Cuối cùng, các thử nghiệm trên động vật chỉ ra rằng điều trị bằng
levodopa dẫn đến tăng mức homocysteine huyết thanh. Những kết quả này ủng hộ giả
thuyết cho rằng sự sản xuất quá mức SAH và hoặc kiệt quệ nhóm methyl, như là kết
quả của việc methyl hoá levodopa và dopamin qua trung gian men COMT là cơ chế
dẫn đến kết quả tăng homocysteine máu ở những bệnh nhân PD được điều trị bằng
levodopa.
Bảøn chất nghiên cứu của chúng tôi là nghiên
cứu cắt ngang cũng không cho phép chúng tôi xác định thời khoảng tăng
homocysteine máu liên quan với levodopa mà dẫn đến tăng nguy cơ CAD. Các số liệu
của chúng tôi chỉ ra rằng các bệnh nhân trong nhóm có mức homocysteine cao nhất
đã được điều trị levodopa khoảng hơn 6 năm. Tuy vậy thời khoảng điều trị thì dài
có thể so sánh ở những bệnh nhân trong nhóm (quartile) thứ hai và thứ ba những
người không tăng nguy cơ bị CAD.
Thêm vào với CAD, các bệnh nhân bị tăng
homocysteine máu cũng tăng nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch, bệnh mạch máu ngoại
vi và đột quị. Trong số các cơ chế đột quị, tăng homocysteine máu liên quan chặt
chẽ nhất với nhồi máu vi mạch dưới vỏ, một vấn đề quan trọng trong PD bởi vì
nhồi máu dưới vỏ có thể gây ra hoặc làm trầm trọng hơn các triệu chứng vủa bệnh
parkinson. Số liệu của chúng tôi không cho phép chúng tôi xác định có hay không
việc tăng homocysteine máu do levodopa đã liên quan với nhồi máu não vi ổ, một
vấn đề quan trọng cần nghiên cứu sâu hơn nữa. Gần đây hơn, tăng homocysteine máu
đã được xác định như là yếu tố nguy cơ đối với sa sút trí tuệ, nhận thức chậm và
trầm cảm. Sa sút trí tuệ hoặc triệu chứng rối loạn cảm xúc xuất hiện trong nhồi
máu đáng kể ở bệnh nhân bị PD, nhưng số liệu của chúng tôi không cho phép chúng
tôi tìm sự tương quan giữa các triệu chứng thần kinh tâm thần với việc tăng
mức homocysteine. Xác lập một mối liên quan như vậy sẽ đòi hỏi sự thu thập hồi
cứu các số liệu về thần kinh tâm thần trên một tập hợp lớn các bệnh nhân bị PD.
Gần như tất cả các bệnh nhân của chúng tôi đều
có mức folate và vitamin B12 từ bình thường tới cao. Mức folate cao có thể do
cung cấp từ ngũ cốc, lúa và các thực phẩm khác ở Mỹ, cũng như một phần lớn bệnh
nhân của chúng tôi đã dùng các chế phẩm multivitamin không cần đơn của bác sỹ.
Chỉ một phần nhỏ bệnh nhân của chúng tôi đã thiếu folate và vitamin B12 so với
chuẩn tham khảo. Mức folate và vitamin B12 trung bình ở những bệnh
nhân trong nhóm có mức homocysteine cao nhất đã thực sự cao hơn mức folate và
vitamin B12 kết hợp với tăng mức homocysteine có thể so sánh được trong nhóm
những bệnh nhân không dùng levodopa. Selhub và cộng sự, nghiên cứu những bệnh
nhân ở Framingham đã không thấy mức homocysteine thấp thêm do tác dụng của mức
folate lớn hơn 4,4 ng/ml(>10 nmol/l) hoặc của mức vitamin B12 lớn hơn 348pg/ml
>257 pmol/l), ngược lại nồng độ vitamin ở những bệnh nhân trong nhóm có mức
homocysteine cao nhất đã cao hơn có ý nghĩa [trung bình (SD, 15.8 ( 4.7 ng/ml
(35.9(10.7 nmol/l) và 475.2 (243.0 pg/ml (350.7(179.3pmol/l), hồi cứu; bảng 2].
Tuy vậy, các bệnh nhân bị PD có nồng độ homocysteine cao nhất có mức folate và
vitamin B12 thấp hơn 3 nhóm có mức homocysteine thấp hơn, so sánh có ý nghĩa ở
mức giới hạn. Những kết quả này gợi ý rằng điều trị bằng levodopa làm tăng nhu
cầu các vitamin này và đưa ra khả năng là cung cấp liều cao acid folic và
cobalamin có thể ngăn chặn tăng homocysteine máu gây ra bởi levodopa. Một cách
khác, chúng tôi có thể dùng thuốc ức chế men COMT hoặc cung cấp vào chế độ ăn
S-adenosylmethionin (để dự trữ bổ xung nhóm methyl) để làm giảm mức homocysteine
ở những bệnh nhân được điều trị bằng levodopa. Vấn đề quan trọng này có thể cần
một thử nghiệm tiền cứu, ngẫu nhiên.
KẾT
LUẬN
Những kết quả của chúng tôi
trong nghiên cứu ở Bắc Mỹ xác định lại kết quả của các nghiên cứu ở Nhật và Châu
Aâu và chỉ ra rằng điều trị bằng levodopa dẫn đến tăng mức homocysteine. Mức
folate và vitamin B12 thì trong giới hạn bình thường ở những bệnh nhân bị tăng
homocysteine máu do điều trị bằng levodopa. Cuối cùng chúng tôi thông báo lần
đầu tiên rằng mức homocysteine tăng ở những bệnh nhân dùng levodopa thì liên
quan với tăng nguy cơ bị CAD. Những kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc
điều trị những bệnh nhân parkinson, là những bệnh nhân có nguy cơ bị bệnh mạch
máu và có nguy cơ tương đối bị sa sút trí tuệ và trầm cảm. |