TRANG WEB HỘI THẦN KINH

www.thankinh.org

Chào mừng quý vị đã đến với trang web chính thức của Hội Thần Kinh Học thành phố Hồ Chí Minh

 

Giới thiệu

Trang chủ

Mục lục

Tìm kiếm


· Các đề tài KHọc

· Đào tạo liên tục

· Trao đổi chmôn

· Hoạt động hội

· Pháp luật y khoa

· Y khoa phổ thông

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lượt truy cập:

Hit Counter

 

LÂM  SÀNG VÀ HÌNH ẢNH HỌC

NHỒI MÁU NÃO Ổ KHUYẾT

Ths Bs Nguyễn Thị Minh Trí

Khoa Thần Kinh, Bệnh viện Thống Nhất

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thiếu máu não cục bộ có rất nhiều nguyên nhân khác nhau đã được trình bày qua sơ đồ chẩn đoán tai biến mạch não và nguyên nhân (Stroke Intenational 1994), trong đó có 4 loại nguyên nhân chính:

            Bệnh xơ cứng mạch não (bệnh mạch máu lớn)

            Bệnh mạch máu nhỏ (thể lâm sàng quan trọng là NMNOK)

            Bệnh tắc mạch máu não do tim

            Một số loại TBMN khác không do nguyên nhân mạch máu

Các nguyên nhân và các thể nhồi máu não khác nhau có cơ chế bệnh sinh, bản chất bệnh khác nhau; do đó biểu hiện lâm sàng, yếu tố nguy cơ, tiến triển, tiên lượng và đặc biệt cách tiếp cận, thăm khám, điều trị cũng khác nhau.

Nhồi máu não ổ khuyết là thể lâm sàng quan trọng của nhóm bệnh lý mạch máu nhỏ, được nêu ra đầu tiên bởi C.M.Fischer từ 1960 qua nghiên cứu tử thiết và lâm sàng( 1 ). Cơ chế bệnh sinh chủ yếu là do các nhóm động mạch tận, xuyên trong sâu bị tắc nghẽn dẫn tới nhồi máu nhỏ khu vực mạch máu cung cấp; với hình ảnh trên C.T Scanner là các ổ giảm tỷ trọng nhỏ  thường ở dưới vỏ  kích thước < 2cm, biểu hiện trên lâm sàng thường nghèo nàn và liên quan chặt chẽ đến 2 yếu tố nguy cơ: tăng huyết áp và tiểu đường. kế đến là ø các yếu tố  gây xơ vữa mạch khác.(1).

Ở Việt Nam cũng như các nước châu Á khác, tỷ lệ bệnh lý mạch máu nhỏ (trong sọ) có nhiều hơn đáng kể( 11- 29% ) so với các nước Tây Âu và Bắc Mỹ (dưới 10 % ); là những nước bệnh lý mạch máu lớn đoạn ngoài sọ có ưu thế lớn(.3) Tuy nhiên, TMNCB do bệnh lý mạch máu nhỏ nói chung, nhồi máu não ổ khuyết nói riêng  ở Việt Nam còn chưa được đánh giá và nghiên cứu đầy đủ đặc biệt về mặt

lâm sàng và hình ảnh học. Đó là lý do chúng tôi tiến hành công trình nghiên cứu này với mục đích như sau:

 
MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI

Khảo sát NMNOK ở các mặt sau:

1-     Yếu tố nguy cơ

2-     Đặc điểm lâm sàng

3-     Đặc điểm C.T Scanner, MRI sọ não , SAMMN đoạn ngoài sọ.

4-     Nhận xét bước đầu về biến chứng và tiên lượng của NMNOK

TỔNG QUAN

Lịch sử bệnh

NMNOK đã được biết đến từ lâu .

Đầu thế kỷ XX Marie đề cập đến danh từ HỐC NÃO.

-       1960, CM Fischer: qua nghiên cứu tử thiết và lâm sàng phát hiện những tổn thương mất Myeline nhỏ của các động mạch nhỏ xuyên sọ, thường ở các nhánh tận – đối chiếu trên lâm sàng có tới 77% không có biểu hiện lâm sàng.

Các ổ mất Myelin này tạo thành các ổ trống nhỏ trong tổ chức não thường ở vùng dưới vỏ nên gọi là các ổ khuyết ( hay còn gọi là hốc não ) ( 1 )

-       1993 là giai đoạn nghiên cứu lâm sàng, đại diện là Bissob và Hommel đã chia NMNOK thành 2 nhóm:

Nhóm cổ điển : bao gồm các hội chứng cơ bản sau:

§         Liệt vận động nửa thân đơn độc

§         Rối loạn cảm giác đơn độc

§         Liệt nhẹ nửa thân thất điều

§         Hội chứng loạn vận ngôn – bàn tay vụng về

§         Tai biến hỗn hỗn hợp về vận động – cảm giác

Nhóm hỗn hợp: bao gồm các hội chứng khuyết não:

§         Đột quỵ chủ yếu vận động

§         Đột quỵ chủ yếu cảm giác

§         Nói khó, bàn tay vụng về

§         Liệt nửa thân, mất điều hòa

§         Sa sút trí tuệ

§         Liệt giả hành

-       Từ đó đến nay, bệnh lý này ngày càng được chú ý đặc biệt là ở các nước châu Á, do bệnh lý mạch máu nhỏ nhiều hơn hẳn ở các nước châu Á so với châu Âu, Bắc Mỹ. Sự phát triển của chẩn đoán hình ảnh học như CT scanner và MRI sọ não đã giúp phát hiện khá nhiều trường hợp NMNOK (( 60%), mà do triệu chứng lâm sàng nghèo nàn rất dễ bỏ qua.

-       1994 hệ thống phân loại TOAST (Trial of OKG, 10/72 in Acute Stroke - Treatment) (5  ) đã đưa ra các tiêu chuẩn chẩn đoán NMNOK như sau:

Lâm sàng: Bệnh nhân có 1 trong 5 hội chứng ổ khuyết não cổ điển và không có các triệu chứng rối loạn chức năng cao cấp của vỏ não.

§         Liệt vận động nửa thân đơn độc

§         Rối loạn cảm giác đơn độc

§         Liệt nhẹ nửa thân thất điều

§         Hội chứng loạn vận ngôn – bàn tay vụng về

§         Tai biến hỗn hợp về vận động – cảm giác

Tiền sử hoặc hiện tại: tăng HA hoặc tiểu đường hoặc cả 2

CT sọ não  : bình thường hoặc có các ổ giảm tỷ trọng nhỏ < 2cm đường kính)

Cho đến nay người ta đã mô tả hơn 70 hội chứng khác nhau từ liệt nửa thân nặng nề đến liệt các cơ vận nhãn riêng lẻ (6)

Giải phẫu – Sinh lý bệnh

Vị trí của NMNOK trong cơ cấu TBMMN

 

Hinh 1

Bệnh lý mạch máu nhỏ

Tổn thương thường nằm trong sâu, vùng gian não hạch nền. Trên CT scanner sọ não là những vùng giảm tỷ trọng có đường kính nhỏ dưới vài centimetres. Bệnh mạch máu nhỏ thường là do tổn thương các nhánh nhỏ, xuyên và sâu của các động mạch chủ yếu trong sọ. Các nhánh này có sự tiếp nối nghèo nàn dễ gây tắc nghẽn khi có điều kiện bất lợi. Có hai yếu tố liên quan mật thiết đến nhóm bệnh lý này: Đó là tăng huyết áp và tiểu đường

-          Tăng huyết áp: (>160/95 mmHg) làm tăng tần suất của nhồi máu nhỏ do ảnh hưởng gián tiếp của tình trạng xơ vữa của mạch tăng lên, do đó tăng khả năng hình thành huyết khối.

-          Tiểu đường: là yếu tố làm tổn thương thành mạch nhỏ dễ gây xơ vữa vàhẹp lòng động mạch.

-          Ngoài ra còn có các yếu tố: viêm động mạch, tổn thương nội mạc dưới dạng hoại tử fibrin, thoái hóa não hyalin, vi phình mạch,....

Nhồi máu não ổ khuyết

Là một dạng của bệnh lý mạch máu nhỏ hay gặp nhất (0% – 29% trong toàn bộ TMNCB ).

Trên CT scanner là những vùng giảm tỷ trọng <2 cm (thường là ?1.5 cm); do các nhánh động mạch tận, xuyên trong sâu có đường kính < 0 ,2 mm bị tắc nghẽn hoặc giảm lưu lượng máu nuôi do lắng đọng fibrin thành mạch, thoái hóa mỡ, hyalin hoặc huyết khối dẫn đến ổ nhồi máu rất nhỏ, đơn độc hoặïc nhiều ổ, biểu hiện trên lâm sàng rất nghèo nàn, thậm chí không có triệu chứng lâm sàng trong một số đáng kể các trường hợp(?40% các trường hợp).

 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân nội trú trong khoa thần kinh với chẩn đoán cuối cùng là TBMN thể thiếu máu não cục bộ dạng NMNOK từ 11/2003 – 30/9/ 2004.

 

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

Dựa trên tiêu chuẩn của hệ thống phân loại TOAST (Trial of OKG, 10172 in Acute Stroke - Treatment)

         Lâm sàng : Bệnh nhân có 1 trong 5 hội chứng ổ khuyết não cổ điển

         Tiền sử hoặc hiện tại: có tăng huyết áp hoặc tiểu đường hoặc cả hai

        CT sọ não hoặc MRI sọ não bình thường hoặc có các ổ giảm tỷ trọng nhỏ ở dưới vỏ < hoặc bằng 1,5 cm đường kính)

       1 số trường hơp chỉ cần  có hình ảnh NMNOK trên  C.T  or MRI sọ não ; trên LS không có 1 trong các HC cổ điển nói trên or không có huyết cao ,tiểu đường  ;vẫn có thể đưa vào nghiên cứu nếu không có bệnh lý khác giải thích được các triệu chứng TK khư trú của bệnh.

 

Kế hoạch tiến hành

Bệnh nhân được khai thác đầy đủ tiền sử, bệnh sử, thăm khám toàn diện về thần kinh và nội khoa nói chung, tiến hành đầy đủ các xét nghiệm cơ bản, được làm CT sọ não không cản quang hoặc MRI sọ não, hoặc cả hai; siêu âm mạch máu não đoạn ngoài sọ.

Phần khám TK phải được các BS chuyên khoa TK đảm nhận.

Các thông số thu được  từ thăm khám và thăm dò chức năng, xét nghiệm theo protocol thống nhất,  xử lý theo PP thống kê Y học.

 

Lượng giá kết quả

-    Đánh giá di chứng và tử vong theo thang  đáng giá tổng quát)

+ Cải thiện tốt: cải thiện hầu hết các triệu chứng

+ Trung bình: cải thiện một phần các triệu chứng

+ Không thay đổi

+ Nặng thêm

+ Tử vong

-    Các thông số đường máu dánh giá theo hiệp hội đái đường Mỹ 1997 (trên 126 mg% lúc đói 2 lần)

-    Tiêu chuẩn tăng huyết áp theo JNC VI (? 140/90 mmHg).

 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng số :      31 bệnh nhân

Nam   :      21 bệnh nhân

     Nữ      :      10 bệnh nhân

 

Tuổi

Tuổi    n=31

Số bệnh nhân

%

<40

1

3,23

40 – 50

8

25,81

51 – 60

9

29,03

61 – 70

9

29,03

71 – 80

2

6,46

>80

2

6,46

Nhận xét:  Tuổi mắcù bệnh tập trung từ 40-70 (83,87 %), trẻ hơn tuổi của các thể khác của TMNCB .

Giới

Giới      n=31

Số bệnh nhân

%

Nam

21

67,74

Nữ

10

32,26

Nhận xét: Nam mắc nhiều hơn hẳn nữ tương tự các thể khác của TMNCB.

    

 

 

Tiền sử

Tiền sử    n=31

Số bệnh nhân

%

Huyết áp cao

20

64,52

Tai biến mạch máu não

6

19,35

Đái tháo đường

6

19,35

Rối loạn chuyển hóa mỡ

8

25,81

HA cao + ĐTĐ

5

16,13

Hút thuốc lá

12

38,71

Nhận xét: HA cao, tiểu đường; hoặc cả 2 ;sau đó là RLCH mỡ là những YTNC thường gặp

Bệnh kèm theo khác

Bệnh kèm theo   n=31

Số bệnh nhân

%

Thoái hoá hoặc m/m khác

8

25,81

Suy thận mãn

2

6,45

Bệnh van tim

2

6,45

Bệnh mạch vành

9

29,03

Bệnh khớp

6

19,35

Bệnh hô hấp

5

16,13

Bệnh lý mạn khác

8

        25.81

Nhận xét: Ngoài bệnh mạch vành; các bệnh lý m/m or thoái hóa TK ; tỷ lệ các bệnh khác rải rác không có khác biệt so với các nhóm bệnh lý khác.

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng    n=31

Số bệnh nhân

%

Rối loạn ý thức

2

6,45

Thiếu sót vận động

13

41,94

Khó nói-bàn tay vụng về

4

12,90

Liệt- Thất điều nửa thân

4

12,90

Rối loạn cảm giác nửa thân

5

16,13

Hội chứng giả hành

2

6.45

Sa sút trí tuệ

2

6,45

Thiếu sót cảm giác-vận động

3

9,68

Rối loạn vận nhãn

2

6,45

Rối loạn ngoại tháp

3

9,68

Nhận xét: Thiếu sót vận động là triệu chứng phổ biến nhất; kế tiếp rối loạn cảm giác ,thất điều; rối loạn vận ngôn .It gặp Rl ý thức; rối loạn vận nhãn.

 

Biến chứng

Biến chứng     n=31

Số bệnh nhân

%

Tăng áp lực sọ cấp

2

6,45

Bộ nhiễm

3

9,68

Suy kiệt

3

9,68

Xuất huyết tiêu hoá

2

6,45

Nhận xét:  Biến chứng rất thấp so với các thể khác của TBMMN nói chung

 

Tiến triển

TIẾN TRIỂN  n=31

Số bệnh nhân

%

Hồi phục hoàn toàn

14

45,16

Di chứng  một phần

5

16,13

Như cũ

8

25,81

Nặng hơn

2

6,45

Tử vong

2

6,45

Nhận xét: Tiên lượng trước mắt thường khá tốt ; rất hiếm tử vong hoặc nặng hơn.

 

Đặc điểm cận lâm sàng

MRI và CT sọ não

Tỉ lệ dương tính

MRI             21/   27 Bn         77,78    %

CT                17/ 31   Bn         54,84   %

Số BN phát hiện có NMNOK  trên C.T và MRI : 25  bn   80,65  %

VỊ TRÍ TỔN THƯƠNG  ( n = 25)

Vị trí tổn thương (N=25)

Số bệnh nhân

(%)

 

 

 

Vỏ não

2

8

Hạch nền  :

-Chỉ ỏ hạch nền

     -Hạch nền + thân não

18

2

16

72

8

64

Thân não

5

20

Nhận xét: vị trí chủ yếu ở hạch nền ; hiếm khi ở vỏ não.

 

 

 

Nhận xét: Đại đa số là NMNOK đa ổ , hay gặp nhất ở giữa ,trước , sau bao trong.

SỐ Ổ TỔN THƯƠNG

Số ổ    n=25

Số bn

Tỷ lệ

1 ổ

3

12

2 ổ

5

20

> 2 ổ

17

68

Nhận xét: đa số có từ 3 ổ tổn thương trở lên(    68 % ).Chỉ có 3 bn có 1 ổ tổn thương.

 

ĐỐI CHIẾU LS VÀ VỊ TRÍ TỔN THƯƠNG

VỊ TRÍ

HC lâm sàng chính                  Số Bn                      %

VỎ NÃO

N=2

Liệt nửa thân đơn độc                     1                     50

Rlcảm giác đơn độc                        1                      50

Rlý thức                                           0                      0

 

HẠCH NỀN

N=18

Liệt nửa thân đơn độc                     6                  33,33

Rlcảm giác đơn độc                        3                   16,67

HC giả hành +RL vận nhãn           1                     5,56

Liệt ½ người vụng về                      1                    5,56

TC Ngoại tháp                                  2                  11,11

sa sút trí tuệ                                      2                 11,11

thiếu sót VĐ + CG                           3                   16,67

RL   ý thức                                        2                   11,11 

THÂN NÃO

N=2

Liệt ½ người thất điều                      2                     40

Khó nói bàn tay vụng về                  2                      40

RL vận nhãn đơn thuần                    1                       20

Nhận xét: vùng hạch nền có nhiều hội chứng khác nhau nhất từ nhẹ đến nặng.Triệu chứng vùng vỏ não nghèo nàn, không RLYT.

 

Các xét nghiệm cận lâm sàng khác

RL sinh hóa-huyết học   n=31

Số bệnh nhân

%

Rối loạn chuyển hóa mỡ

Đái tháo đường

SGOT

SGPT

11

8

3

3

35,48

25,81

9,68

9,68

Tăng bạch cầu máu

2

6,45

Rối loạn điện giải

2

6,45

 

 

 

 

 

 

Siêu âm mạch máu não đoạn ngoài sọ

Tiến hành trên ..29../31.bệnh nhân

Có thay đổi trên.14..bệnh nhân, tỷ lệ 45,1..%

SAMMN não ĐNS

             N=29

Số bệnh nhân

%

Dày nội mạc

Hẹp động mạch

Plague

Phổ dòng đ/m  giảm             

11

4

2

3

37,93

13,79

6,89

10,34

Nhận xét:  tỷ lệ có thay đổi trên SAMMN đoạn ngoài sọ chủ yếu là dày nộ mạc . Những thay đổi nặng như hẹp or plague hiếm gặp.   Phổ dòng máu ĐM đa số bình thường.

 

BÀN LUẬN

Bàn luận về những đặc điểm chung

a.      Giới: Tương tự các thể TBMMN khác ; HC lỗ khuyết hay gặp ở nam (67,74     %) nhiều  hơn nữ ( 23,26 %     ); tương tự số liệu của các tác giả khác. Lý do bệnh liên quan chặt chẽ với 2 yếu tố nguy cơ là HA cao và tiểu đường ; là 2 yếu tố hay gặp ở nam hơn nữ .

b.      Tuổi:Tương tự các thể khác của TMNCB tuổi của NMNOK tương đối cao; chủ yếu tập trung ở lứa tuổi 40-70       ( 83,87%    ); tuy nhiên có trẻ hơn các thể khác của TMNCB ( 60-80t ).

Huyết áp cao, tiểu đường là 2 yếu tố nguy cơ chính NMNOK . Ở các bn của chúng tôi tỷ lệ HA cao rất cao chiếm    (70,65    %  ),Trong đó tăng HA đơn thuần tới 64,52 %; kế tiếp là tiểu đường ( 35,48      % ) , trong đó tiểu đường đơn thuần là 19,37 %. lý do đây là 2 YTNC quan trọng nhất của NMNOK ; thậm chí được coi là 1 trong các tiêu chuẩn chẩn đoán NMNOK (1) . Ngoài ra RLCH mỡ cũng có tỷ lệ đáng kể ( 25,81 %   % ). Theo  Ng. văn Đăng và nhiều tác giả ; ngoài THA và tiểu đường là 2YTNC chính ; gần đây người ta đề cập đến nhiều vai trò của  xơ vữa ĐM trong cơ chế bệnh sinh của NMNOK (1)

 

Bàn luận về những triệu chứng lâm sàng

Ý thức: Chỉ có 2 trường hợp có rối loạn ý thức ở mức độ nhẹ. Cả 2 trường hợp đều có tổn thương nhiều ổ  ở dưới vỏ; kèm với bệnh lý chất trắng ĐM lan toả .Do đó chúng tôi cho rằng nguyên nhân rối loạn ý thức ở đây là do bệnh lý chất trắng ĐM là chủ yếu . Tính chất ít xâm phạm vào chức năng thần kinh cao cấp là đặc điểm quan trọng của NMNOK ; Thậm chí được coi là một tiêu chuẩn chẩn đoán của NMNOK ( Theo hệ thống phân loại TOAST ( 1))

Tương tự RLYT ; Sa sút trí tuệ gặp ở tỷ lệ không cao  ( 11,11  %) thấp hơn tỷ lệ của các TMNCB khác . Tuy nhiên đây cũng là một nguyên nhân quan trọng của sa sút trí tuệ do căn nguyên mặch máu (9)

Tính chất nghèo nàn của các triệu chứng thần kinh : Liệt nửa thân đơn độc ( 41,94  %) ; Rl cảm  giác đơn độc ( 16,13 %); thậm chí có 2 trường hợp chỉ có đau đầu và rối loạn vận nhãn

-          Theo Nguyễn văn Đăng cho đến nay người ta đã đưa ra khoảng 70 hội chứng khuyết não khác nhau từ liệt nửa thân nặng nề đến triệu chứng nhẹ ; đơn lẻ như đau đầu  chóng mặt(1).Đặc biệt theo Fisher có tới 45 %-60 % các trường hợp khuyết não không có triệu chứng lâm sàng (5).

- Ngoài ra liệt nửa thân thất điều; khó nói ; bàn tay vụng về  cũng là triệu chứng thường gặp ( 12,90   %); chủ yếu là do các ổ NMNOK  ở thân não (4/5 bn) .Tương tự các triệu chứng rối loạn ngoại tháp; cũng gặp ở những trường hợp khuyết não dưới vỏ có thể  kèm sa sút trí tuệ  ( 9,68   %) rất dễ nhầm với PAKINSƠN giai đoạn muộn .

Tính chất đa bệnh thái:có một tỷ lệ khá cao các trường hợp khuyết não kèm theo tăng huyết áp cao);  tiểu đường rối loạn chuyển hoá mỡ như đã nói ở trên,Tỷ lệ các bệnh kèm theo khác chủ yếu là các bệnh lý liên quan đến vữa xơ mạch máu như bệnh mạch vành (25,81%), các bệnh lý  liên quan mặch máu não khác (29,03)Theo Fishser và Besson G Homel huyết áp cao và tiểu đường là 2 yếu tố nguy cơ cũng là 2 nguyên nhân chính của NMNOK ( 2.1 3,4 )Gần đây người ta nhấn mạnh đến yếu tố rối loạn chuyển hoá mỡ và xơ vữa mặch (1). Ngoài ra tính chất đa bệnh thái cũng là tính chất phổ biến của các BN lớn tuổi nói chung  (); chính nó là nguyên nhân làm cho một số trường hợp có bệnh cảnh năng ;thậm chí tử vong ( 1 trường hợp ). Mặc dù về mặt lý thuyết ; theo đa số tác giả tiên lượng của NMNOK thường tốt.

Biến chứng của NMNOK là không đáng kể . chỉ có 2 trường hợp bộ nhiễm phổi ; 1 trường hợp xuất huyết tiêu hóa .Các trường hợp này đều ở các BN có nhiều ổ NMNOK ; có kèm sa sút trí tuệ và kèm theo bệnh lý chất trắng động mạch .

Chỉ có 2 trường hợp biến chứng tăng áp lực sọ não cấp . Lý do dễ hiểu là ổ tổn thương nhỏ không đủ gây hiệu ứng choán chỗ . Kết quả này cũng phù hợp với  các y văn ; không có tài liệu nào nói tới biến chứng này.

 

Tiên lượng.  Theo y văn tiên lượng NMNOK thường tốt .tuy nhiên ở các BN của chúng tôi có 2 trường hợp tử vong .Trường hợp này tổn thương nhiêù ổ cả vỏ não và dưới vỏ ;BN liệt ½ thân nặng nề kèm  sa sút trí tuệ và rối loạn ý thức . BN tử vong do suy kiệt và bộ nhiễm phổi.

Đa số các trường hợp hồi phục hoàn toàn  (45,16  %). Có một tỷ lệ nhỏ di chứng yêú nưả thân hoặc tê nửa thân ( 15,13  %).

Tiên lượng tốt của NMNOK là do kích thước tổn thương nhỏ; không xâm phạm chức năng TK cao cấp, tuy nhiên do các mặch máu bị tổn thương là các ĐM tận nên không có sự bù trừ ; do đó tổn thương khó hồi phục hoàn toàn . Sau nhiêù lần tích lũy các ổ nhồi máu (nhồi máu đa ổ ) ; BN dễ bị sa sút trí tuệ cũng như các di chứng khác tương tự  như các NMN khác (3)

 

Bàn luận về C.T, MRI sọ não

Độ nhạy của C.T và MRI sọ não

Ơ các bệnh nhân của chúng tôi ; độ nhậy của C.T sọ não khá cao ( 54,84 %); so với các tác giả khác ( theo Fisher 27%); tương tự độ nhậy của MRI  là 77,78  % so với nhận xét của Besson G Hommet là dưới 45 %(3). Điều này có thể do cắch lấy BN của chúng tôi ;ngoài dựa trên tiêu chuẩn phân loại của TOAST; chúng tôi lấy cả các BN vào viện vì bất cứ triệu chứng chỉ điểm TK nào có hình ảnh NMNOK trên C.T or MRI sọ não ;tuy nhiên tất cả các tác giả đều công nhận độ nhậy của MRI sọ não cao hơn so với C.T sọ não.

Vị trí tổn thương hay gặp nhất là vùng nền của trên lều  thuộc chi phối của động mặch cảnh trong  (72 %); tiếp theo là vùng thân não ( 20 %  ); và ít gặp ở vỏ não (   8 %) .Tính chất này ngược hẳn với các thể khác của TMNCB thường là khư trú ở vỏ não  (trên lâm sàng hay có liệt vỏ não ) . Lý do của đặc điểm này là do giải phẫu bệnh của NMNOK là tổn thương xơ vữa và thoái hóa mỡ ở các ĐM tận và xiên ở trong sâu thuộc nền não .

Số ổ  tổn thương thường nhiều hơn 2 ổ (88,83 %); chỉ có 12 % có 1ổ trong khi ở các thể khác của ûTMNCB  đa số chỉ có 1 ổ  ở cùng thời điểm bị bệnh Ngay cả những trường hợp 1 ổ cũng chỉ là trên MRI hoạc C.T sọ não ,rất có thể số ổ tổn thương nhiều hơn trên giải phẫu bệnh . Lý do của sự phổ biến đa ổ là do bệnh phát triển mãn tính , qua thời gian tích lũy nhiều ổ NMNOK ; ngoài ra do kích thước ổ tổn thương nhỏ ; khó xác định được tuổi của tổn thương .

 

Mối liên quan giữa triệu chứng LS và hình ảnh

Thiếu sót VĐ đơn thuần theo Besson chiếm 15 %các TBMMN nhưng chiếm tới ½ các trường hợp NMNOK  và gặp chủ yếu ở bao trong.Điều này phù hợp với kết quả của chúng tôi ,liệt nửa thân đơn độc là triệu chứng phổ biến nhất gặp 33% các trường hợp NMNOK vùng hạch nền, ngoài ra có ½ trường hợp NMNOK có liệt nửa thân đơn độc .

Tất cả các trường hợp khó nói , bàn tay vụng về đều do tổn thương dưới lều đặc biệt cầu não và tiểu não (40% ),phù hợp với đa số các tác giả

Rối loạn ý thức, sa sút trí tuệ liên quan đến vị trí tổn thương ở dưới vỏ não và ø số ổ tổn thương (2/2 bn). Chúng tôi chưa thấy các y văn nói đến triệu chứng này. Cả 2 trường hợp đều tổn thương đa ổ và có bệnh lý chất trắng ĐM kèm theo

Rối loạn ngoại tháp đặc biệt liên quan đến các ổ NMNOK vùng dưới vỏ , ở cả 2 trường hợp phù hợp với yvăn.

Thất điều , hội chứng giả hành  (40%), rl vận nhãn (20%) trong các NMNOK vùng thân não.Theo lê văn Thính HC này hiếm( 10% ), và chỉ có ¼ trường hợp là tổn thương dưới lều .

Rối loạn cảm giác có thể được gặp 80 % các trường hợp ; có thể gặp ở mọi vị trí vỏ não ;đồi thị hoặc thân não. Ở các BN của chúng tôi  RLCG gặp 50% các NMNOKvỏ não và 16,67 % vùng hặch nền

RL cảm giác – vận động thường gặp do tổn thương bao trong ( 16,67%), Do đây là đường qua lại của các đường vận động , cảm giác.

-Tuy nhiên mối liên hệ giữa hình ảnh học và lâm sàng còn chưa thật thuết phục .theo Fisher có tới 77 % các NMNOK không có triệu chứng lâm sàng .Theo Besson G.Hommes 40-45 % MRI âm tính trong các trường hợp có hội chưng NMNOK  trên LS . Ngoài ra theo Ng.văn Đăng .trong thực hành cần có bảng phân loại NMNOK theo vị trí mạch bị tổn thương ; Vấn đề này hiệp hội đột quị thế giới  đang xúc tiến dựa trên hình ảnh C.T và LS tương ứng vùng bị nhồi máu (1,2 ). Mặt khác kỹ thuật đọc phim dựa trên nắm vững giải phẫu không phải dễ dàng.  

Siêu âm mạch máu não ngoài sọ

Theo tài liệu của y văn:

-          Ở các nước châu Âu, Bắc Mỹ: bệnh lý mạch lớn ngoài sọ là quan trọng do đó hay có tổn thương trên siêu mạch não ngoài sọ ( 2)

Ở các nước châu A Ù: Tổn thương m/m nhỏ trong sọ được chú ý đặc biệt ; do có tỷ lệ khá cao và thay đổi từ 10-29 % ( 2;3). Theo Lê văn Thính  ở BV Bạch Mai là 29 % ;  khoa TK BV Chợ Rẫy là 11 %.

Ở các BN của chúng tôi ; đối tượng là NMNOK  thuộc bệnh lý mặch máu nhỏ ; nên tỷ lệ  có tổn thương trên SAMMN đoạn ngoài sọ không cao ( 45,1   %) ; so với số liệu của các trường hợp TMNCB nói chung (   %)

Tổn thương trên SAĐMN đoạn ngoài sọ không nặng nề  chủ yếu là dày nội mạc 37,93 % , ít khi thay đổi phổ dòng máu ĐM (19,34 % )

-Như vậy ; giá trị của SAMMN đoạn ngoài sọ trong NMNOK  là không cao so với các thể TMNCB khác ; tương tự nhận xét của các tác giả khác ( 2). Do vậy ; ở các đối tượng này ; nên áp dụng SAMMN txuyên sọ ; giá trị chẩn đoán chắc chắn sẽ cao hơn. Ở BVCR việc sử dụng SAMMN xuyên sọ trong nghiên cứu TMNCB đã được chú y (Lê văn Thành  và Nguyễn hữu Tài) Tuy nhiên chưa thấy số liệu của NMNOK ở các ngiên cứu này.

 

Các thay đổi khác về sinh hóa – huyết học

Thay đổi các thông số biểu hiện stress như: SGOT ( 9, 68   % )SGPT  (9,58   % ), bạch cầu máu ( 6,45   %) là không  khác biệt so với vác thể TBMMN khác å .Điều này tương đối dễ hiểu do tổn thương nhỏ ; BN thường tỉnh táo hoàn toàn . Các thay đổi chủ yếu là tăng đường máu(35,48 %), Tăng đường máu  (25,81 % ) ; là do tiểu đường và RLCH mỡ là 2 YTNC phổ biến của NMNOK (Cùng với HA cao ), hơn là do phản ứng của cơ thể với NMNOK xảy ra .

 

KẾT LUẬN

Qua khảo sát lâm sàng và hình ảnh 31 trường hợp NMNOK trong 1 năm qua , chúng tôi rút ra 1 số kết luận như sau :

1-NMNOK là thể bệnh đặc biệt của TBMMN nói chung , TMNCB nói riêng , nam (67,74%)gặp nhiều hơn nũ  (32,26%), tập trung ở lứa tuổi 40-70 (83,87 %) , trẻ hơn các thể khác của TMNCB.

2- Các yếu tố nguy cơ phổ biến nhất là tăng HA (64,52 %), tiểu đường (19,35 % )cao hơn hẳn các thể khác của TMNCB, ngoài  ra là RLCH mỡ cũng là yếu tố nguy cơ thường gặp(25,81 %).

3-Các hội chứng LS thường gặp : Liệt ½ thân đơn độc 41,94 % ) , rối loạn cảm giác đơn độc (16,13 % ) , đột quị cảm giác –vận động (9,68 %) , thất điều ,khó nói( 12,9 %)…; Rất ít khi gặp Rl ngoại tháp (9,58 % ); sa sút trí tuệ, Rl vận nhãn và RL ý thức .

4-Tính chất nghèo nàn, lẻ tẻ của các triệu chứng trên một BN.Nhưng đa dạng ở các bệnh nhân khác nhau . Tiến triển thuận lợi , ít biến chứng , ä tử vong thấp là các đặc diểm LS quan trọng của NMNOK

5-Độ nhậy của MRI sọ não (77,08 % ) cao hơn hẳn C.T sọ não (54,84 % ) trong phát hiện NMNOK .Vị trí tổn thương hay gặp là vùng hăch nền ((72 % ) ;trong đó chủ yếu là vùng giữa (55,56 % ) , trước và sau của bao trong (16, 67 % ) ,sau đó là thân não  (20 % ), Rất hiếm khi gặp NMNOK vùng vỏ não (8 % ) . Tổn thương đa ổ trong đa số các trương hợp (68 % ), rất hiếm gặp tổn thương 1 ổ .

6-Có một mối liên quan giữa LS và vị trí tổn thương . vùng hạch nền là vị trí có nhiều HC lâm sàng phong phú nhất (Liệt nửa thân đơn độc ,RL cảm giác , Đột quị cảm giác –vận động , RL ngoại tháp ; sa sút trí tuệ ..)Các hội chứng thất điều, nói khó RL vận nhãn..thường gặp trong NMNOK thân não. Tuy nhiên do số lượng BN  còn hạn chế nên mối quan hệ này chưa được xác định rõ ràng.

7-Siêu âm mạch máu não đoạn ngoài sọ trong NMNOK thay đổi không nhiều , chủ yếu là dày nội mạc 37,93 % ), hiếm khi thấy Plaque (6,84 % ) và hẹp ĐM 13,79 %.Do đó việc đặt ra thăm dò SAMMN xuyên sọ là hết sức cần thiết..

8-Các thay đổi huyết học , sinh hóa biểu hiện phản ứng của cơ thể với Stress là không đáng kể.

 

Trên đây là một số kết quả và nhận xét thu được qua khảo sát LS và hình ảnh học của 31 trường hợp NMNOK ở khoa TK trong 1 năm qua. Tuy nhiên số liệu còn ít , nên ý nghĩa thống kê còn chưa thuýêt phục . Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới , đặc biệt là khảo sá SAMMN xuyên sọ , một khảo sát có giá trị trong thể bệnh đặc biệt còn ít được quan tâm này.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1.          Nguyễn văn Đăng : Tai biến mặch máu não –Chương 7 : Hốc não –trang 141-152-NXBYH 2003

2.          Lê văn Thính : Phân loại TBMMN – Tạp san thần kinh học- hội TK Việt nam-Tháng 3 –2003

3.          Lê văn Thính :Lacunar infaction South East Asia – Journal –N0­­­- 2. July 1997

4.          Besson G.Hommel. M.Perret j Historial—aspects-of the lacunar concept. Cerebrovas .Dis.1991

5.          Fisher CM. Lacunar infarcts.A review Cerebrrovasc Dis 1991

6.          Bogousslavsky j .regli f . maeder p intracranial lartery disease and ; lacunar infarctiin. Cerebrovase dis 1991 ;1 :154-9

7.          Fisher CM  . Lacunes :Small; deep cerebral infarcts .Neurology .1965

8.          Bogousslavsky j: Intracranial Large-artery disease and; lacunar infarction. Cerebrovase Dis 1918

9.          Lê Minh –Sa sút trí tuệ –Sinh hoạt hội TK-tp HCM tháng 7-2004

 

 

 

 

 

 

Để bệnh nhân động kinh nhìn thấy tương lai!

 

   

Thiết kế và quản trị: BS Nguyễn Bá Thắng
Mọi thắc mắc, góp ý về trang web này, xin gửi về thankinhhcm@gmail.com
Cập nhật: 02-07-2009