|
CHẨN ĐOÁN VÀ
ĐIỀU TRỊ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC TỪNG ĐÁM
GS.TS
LÊ VAN THÀNH
CƠ THỂ BỆNH
HỌC
Bệnh
lý chất trắng thuộc các trục của neuron, các mảng có đường kính vài mm đến vài
cm. Những thương tổn này có thể gặp ở bán cầu đại não, ở tiểu não, tủy sống và
thần kinh thị, đặc biệt chúng hay tập trung quanh não thất. Thương tổn mới màu
hồng, cũ màu xám.
Vi
thể : Thương tổn chính ở myéline, còn trục của neuron hoàn toàn nguyên vẹn.
Trung tâm của các mảng là tỉnh mạch, được bao quanh xâm lấn bởi đại thực bào,
tân bào và plasmocyte, các sản phẩm của myeline và chất lipid dạng tự do trong
đại thực bào. Phản ứng viêm này phối hợp giữa tổn thương cũ với sự giảm thiểu tế
bào đệm và với sự thay thế dần bởi sự tăng sinh các astrocyte.
Những nghiên cứu về miển dịch tế bào tại trung tâm các mảng thấy có sự giảm bớt
myeline cơ bản và giảm thiểu glycoprotein liên quan tới myeline. Một câu hỏi sự
thương tổn của màng những tế bào ít sợi bao quanh các đoạn Ranvier có phải là
những thương tổn sơ khởi cho quá trình xơ cứng không.
LÂM SÀNG
Tuổi
mắc bệnh thường 20-40. Nữ nhiều hơn nam 2 lần.
THƯƠNG TỔN CÁC DÂY THẦN KINH
Dây
thị : chiếm 20 – 30%.
Thường biểu hiện như một viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu, không cân đối 2 bên.
Khởi đầu đau nhức hốc mắt. Giảm thị lực đột ngột, thị trường thu hẹp dưới dạng
ám điểm trung tâm, không nhận được màu sắc, gai thị phù, có khi gặp hình ảnh
viêm tắc tĩnh mạch, dấu Ruckert. Thị trường có thể phục hồi sau vài tuần, nhưng
có thể tái phát và nặng hơn, nhiều lần tái phát gai thị trở nên teo. Đo điện thế
kích thích thấy rõ sự hư biến dẫn truyền với sóng P1 trên 100ms.
Thương tổn dây vận nhãn :
Hay
gặp dây IV, tiếp là dây III không hoàn toàn, có thể có dãn đồng tử. Thương tổn
trên nhân như mất chức năng nhìn ngang hiếm hơn. Các triệu chứng sẽ lui dần.
Thương tổn dây tiền đình :
Khởi
đầu thường là triệu chứng đi không vững, chao đảo, chóng mặt tư thế, hiếm khi
triệu chứng cấp. Nystagmus theo nhiều hướng, nghiệp pháp Romberg không điển
hình, tất cả nói lên một hội chứng tiền đình trung ương.
Thương tổn dây sọ khác :
Đau
dây thần kinh mặt.
Liệt
mặt ngoại biên.
Một
số dây sọ khác
Riêng một triệu chứng của các dây này khó có thể nghĩ đến XCRRTĐ
THƯƠNG TỔN BÓ THÁP
70%
là triệu chứng khởi đầu của bệnh, thường là yếu 2 chân, giảm phản xạ, không cân
đối. Sau vài tuần chuyển sang liệt cứng, đi lại yếu cách hồi rồi liệt hẳn, triệu
chứng tháp chi trên sẽ xuất hiện. Các triệu chứng cũng sẽ lui dần, có trường hợp
khỏi hẳn.
THƯƠNG TỔN ĐƯỜNG CẢM GIÁC
Rối
loạn cảm giác cũng thường gặp như triệu chứng tháp, triệu chứng chủ yếu của sừng
sau và cột sau tủy sống. Rối loạn cảm giác chủ quan, dị cảm thân thể như cảm
giác bó chặt một đoạn thân hoặc như da dầy lên, có thể có cảm giác đau như điện
giật truyền từ cổ xuống tới chân tự nhiên hoặc khi kích thích ( dấu Lhermitt ).
THƯƠNG TỔN TIỂU NÃO :
Triệu chứng tiểu não xuất hiện trong 50% các trường hợp. Khởi đầu là các triệu
chứng loạng choạng, triệu chứng này có thể kèm với triệu chứng tháp. Sau này khi
bệnh nặng lên sẽ có đầy đủ hội chứng tiểu não như giảm trương lực, và rối loạn
tiểu não động trạng. Những trường hợp nặng có thể xuất hiện triệu chứng run mạnh
khi chú-ý,khi đứng có thể run cả đầu và thân, nói khó kiểu tiểu não …
RỐI
LOẠN CƠ VÒNG :
Những rối loạn cơ vòng bàng quang như buồn tiểu phải đi ngay, hoặc đi tiểu chậm,
có trường hợp bất lực sinh lý đi kèm. Các triệu chứng trên diễn tiến theo từng
đợt bệnh nặng lên rồi lui, nhưng nếu bệnh tái lại nhiều lần sẽ đưa đến tiêu tiểu
tự động, chứng tỏ có thương tổn phối hợp giữa trung ương và các rể đám rối cùng,
làm mất cảm giác buồn tiêu tiểu.
THƯƠNG TỔN NÃO
Cơn
co giật kiểu động kinh chiếm 50%, có thể là cơn cục bộ hoặc toàn thể. Những rối
loạn về trí tuệ và sự tỉnh táo, hoặc vui vẽ hưng phấn chỉ thấy ở những lần bùng
phát nặng.
TIẾN TRIỂN
Không thể biết trước được sự tiến triển của bệnh trong đợt bệnh thứ nhất, ngay
cả sự lui bệnh hoàn toàn hay không. Không một yếu tố nào về tuổi, giới, bản chất
khởi đầu, các phương pháp thăm dò, … có thể cho phép dự kiến được tương lai của
bệnh.
Một
kiểu cách chung quan trọng là cơn bùng tái phát sau lần đầu là 5 năm. Mỗi đợt
tái phát bệnh bao giờ cũng nặng hơn, biểu hiện sự thoái lui ít hơn và để lại di
chứng nặng hơn, 70% trường hợp sinh hoạt khó khăn, ngồi tại chổ sau 10 năm bệnh.
NHỮNG BIẾN THỂ
CỦA XCRRTĐ
Các
thể này còn được bàn cải nhiều, gồm :
Thể cấp
Viêm tủy thị thần kinh
Bệnh của Schilder
Polyneuropathy
XCRRTĐ cấp : Tổn
thương nhiều nơi từ não, thân não đến tủy sống,
tiến triển vài tuần, bệnh nhân đi dần vào hôn mê và đi đến tử vong. Kết quả cơ
thể bệnh thấy nhiều mảng chỉ khác với thể thông thường là các mảng này cùng tuổi
và vùng chung quanh tĩnh mạch sự mất myeline không nhìn thấy rỏ hơn.
VIÊM TỦY THỊ THẦN
KINH hay hội chứng Devic, với các triệu chứng
chính : Khởi đầu bằng triệu chứng viêm tủy cấp hoặc bán cấp dưới dạng viêm tủy
cắt ngang hoặc viêm tủy hướng lên, tiếp theo là triệu chứng của viêm thị thần
kinh một hoặc hai bên. Bệnh có thể để lại di chứng vĩnh viễn, nhưng cũng có
trường hợp bệnh lui hoàn toàn không tái lại. Đây là điểm khác với triệu chứng có
thương tổn hai nơi của XCRRTĐ là tại tủy và tại đây thần kinh thị giác.
NHÓM BỆNH SCHILDER hay xơ cứng não lan tỏa
Gồm
một nhóm bệnh mất myeline, căn nguyên biến đổi nhưng đáp ứng những tiêu chuẩn :
hay gặp ở thiếu nhi và người trẻ, không có tiền sử gia đình, có triệu chứng về
thị giác như bán manh, mù vỏ não, điếc võ não, nói khó, có hội chứng tiền đình
trung ương, hội chứng tháp tứ chi. Giảm chức năng thần kinh cao cấp một cách có
tiệm tiến. Có hội chứng tăng áp lực nội sọ.
XƠ CỨNG ĐỒNG TÂM CỦA BALO
Có
những thương tổn kiểu hình nhẫn mất chất myelin xen lẫn các tổ chức lành, hay
gặp ở người trưởng thành với các triệu chứng của bán cầu đại não và thân não.
Bệnh nặng dần đưa đến tử vong.
NHỮNG XÉT
NGHIỆM
XÉT NGHIỆM MẮT
Chú ý tìm di
chứng của viêm thị thần kinh, nhất là phía thái dương, thị trường dạng ám điểm,
nhận biết về màu sắc.
DỊCH
NÃO TỦY
Tế
bào 70% trường hợp có tăng nhẹ bạch cầu, từ vài tế bào đến dưới 50
Protein cũng tăng rất nhẹ dưới 100 mg%.
Điện
di protein dịch não tủy thấy tăng IgG > 10% và với oligoclone ở những đoạn 2, 3
và 4. Kết quả có tính gợi ý vì nó có thể xuất hiện trong những trường hợp khác
như viêm não chất trắng hoại tử bán cấp, viêm màng não do trypanosomiase, herpes
và giang mai thời kỳ IV.
ĐIỆN
THẾ KÍCH THÍCH
Nghiên cứu ĐTKT thị giác rất có ích cho chẩn đoán trong 80% trường hợp XCRRTĐ,
tuy nhiên trong những trường hợp viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu cũng có kết quả
giống nhau.
ĐTKT
thân não bất thường trong 60% trường hợp có triệu chứng bệnh lý, nhưng cũng có
tới 20-50% ở bệnh nhân XCRRTĐ không có triệu chứng lâm sàng của thương tổn thân
não.
ĐTKT
cảm giác thân thể thấy bất thường ở 3/4 bệnh nhân có triệu chứng di cảm có hoặc
không có triệu chứng khách quan.
CHẨN
ĐOÁN HÌNH ẢNH HỌC
CTScan não : Thấy được những nột giảm đạm độ từ vài mm đến 1-2 cm, số lượng và
vị trí tùy thuộc vào mức độ tương ứng trên lâm sàng, có thể thấy ở thân não,
tiểu não và vùng chất trắng của bán cầu. Có một đặc điểm là các ổ giảm đậm độ
này tập trung quanh não thất, chúng bắt cản quang cho thấy rõ những ổ tăng tín
hiệu.
MRI
: Đây là một phương pháp thăm dò rất quan trọng cho chẩn đoán XCRRTĐ.
Ở T1
giống như Ctscan, cho thấy các ổ giảm tín hiệu với đặc tính như đã nêu ở phần
trên. T2 cho hình ảnh rỏ nét hơn, nhất là dùng chất Gadolinium. Trong điều kiện
hiện nay, theo chúng tôi, MRI đã tháo gỡ được khó khăn trong chẩn đoán XCRRTĐ
nếu được kết hợp tốt với lâm sàng cùng với các xét nghiệm khác hiện có.
BẢNG
1
.
TIÊU
CHUẨN CHẨN ĐÓAN MRI ĐỐI VỚI BẤT
THƯỜNG Ở NÃO
n Cần
3 trong 4 tiêu chuẩn sau:
n1
tổn thương tăng tín hiệu sau Gado, hoặc 9 TT tăng mạnh trong T2, nếu không
có TT tăng tín hiệu sau Gado.
nÍt
nhất 1 TT dưới lều;
nÍt
nhất 1 TT dưới vỏ;
nÍt
nhất 3 TT quanh não thất.
BẢNG
2 .
TIÊU CHUẨN MRI VỚI NHỮNG SANG
THƯƠNG CÓ TÍNH LAN TỎA THEO THỜI GIAN
n Nếu chụp lần 1 trong 3 tháng , có 1 TT tăng tín hiệu sau Gado là
đủ xác định.nó
khác với vị trí của lâm sàng, Nếu chụp không thấy TT, sau đó chụp lần 2 trong
vòng 3 tháng sau, nếu có 1 T2, hoặc 1 tăng tín hiệu sau Gado là đạt tiêu chuẩn
của lan tỏa thương tổn theo thời gian,
n 2. Nếu lần chụp 1 thực hiện dưới 3 tháng, lần chụp 2 sau cơn
bùng pháp 3
tháng hoặc lâu hơn nữa, nếu có tăng tín hiệu sau Gado là đủ tiêu chuẩn lan tỏa
theo thời gian…..
CHẨN
ĐOÁN
Chẩn đoán XCRRTĐ không đơn giản vì không một triệu chứng lâm sàng hoặc
cận lâm sàng nào có thể xác định chẩn đoán, cần khai thác tiền sử, bệnh sử, sau
đó tập hợp các chứng cớ về sự tiến triển của các triệu chứng thương tổn có tính
rải rác, về thời gian chứng minh được từng giai đoạn bệnh và các triệu chứng
mới, từ đó sẽ dựng lên toàn cảnh bệnh.
NHỮNG TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN XCRRTĐ
CHẨN ĐOÁN CHẮC CHẮN
Theo Mc Alpine và cộng sự :
Bệnh sử gồm viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu, một giai đoạn có dị cảm,
thiếu sót vận động, nhìn đôi, rối loạn bước đi. Tiến triễn các triệu chứng trên
lui dần rồi biến mất và chúng xuất hiện sau đó một vài năm, có thêm nhiều lần
bùng phát với sự có mặt của triệu chứng tháp hoặc những dấu hiệu khác chứng tỏ
có tổn thương nhiều ổ của hệ thần kinh trung ương.
Liệt hai chi dưới kiểu tiến triển của một tái phát và nặng hơn lần
trước với những dấu hiệu của tổn thương thân não, của tiểu não và dây thần kinh
thị giác.
Theo Schumaket và CS. Rose và CS.
Dựa
vào những tiến triển : Cơn bùng phát giảm, tối thiểu hai lần bùng phát cách nhau
một khoảng thời gian dưới một tháng, hoặc tiến triển theo từng nấc trải qua dưới
sáu tháng, tồn tại của những dấu chứng thần kinh biểu hiện trên một thương tổn
của chất trắng trục thần kinh. Các rối loạn xảy ra giữa 10-50 tuổi.
Theo Poser và CS :
Chẩn đoán xác
định :
Dựa trên cơ sở lâm sàng :
Hai
đợt bùng phát với bằng chứng tồn tại của hai tổn thương khác nhau.
Hai
đợt bùng phát với bằng chứng lâm sàng của một tổn thương và bằng chứng của cận
lâm sàng của một vị trí thương tổn khác biệt.
Dựa trên cơ sở cận lâm sàng :
Hai
đợt bùng phát với bằng chứng của lâm sàng hoặc cận lâm sàng của một tổn thương
và tìm thấy sự phân bố oligoclonal của IgG trong dịch não tủy.
Một
đợt bùng phát có bằng chứng lâm sàng của hai thương tổn vị trí khác nhau, và tìm
thấy sự phân bố IgG trong dịch não tủy.
Một
đợt bùng phát có bằng chứng lâm sàng của một thương tổn và một cận lâm sàng của
một thương tổn nơi khác và trong dịch não tủy có sự phân bố IgG.
Chẩn đoán có
khả năng ( Theo Poser và CS )
Dựa trên cơ sở lâm sàng
Hai
đợt bùng phát và bằng chứng của một thương tổn.
Mỗi
đợt bùng phát nhưng có bằng chứng của hai thương tổn khác.
Một
đợt bùng phát nhưng có bằng chứng của một lâm sàng và một cận lâm sàng vị trí
khác nhau.
Dựa
trên cơ sở cận lâm sàng
Hai
đợt bùng phát và tìm thấy sự phân bố của IgG trong dịch não tủy.
TÓM TẮT TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN
XCRRTĐ :
CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH :
|
Lần
đầu |
1 Vị
trí LS + 1 Vị trí CLS khác |
+
IgG |
|
Lần
đầu |
2 Vị
trí LS khác nhau |
+
IgG |
|
Lần
2 |
1 Vị
trí LS hoặc 1 Vị trí CLS |
+
IgG |
|
Lần
2 |
2 Vị
trí LS khác nhau |
|
|
Lần
2 |
1 Vị
trí LS + 1 Vị trí CLS khác |
|
CHẨN ĐOÁN CÓ KHẢ NĂNG
|
Lần
đầu |
2 Vị
trí LS khác nhau |
|
Lần
đầu |
2 Vị
trí LS + 1 Vị trí CLS |
|
Lần
2 |
1 Vị
trí LS |
|
Lần
2 |
IgG
|
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
NHỮNG BỆNH LOẠN DƯỠNG CHẤT TRẮNG
( leucodystrophie )
Những bệnh
Sphingolipide :
Loạn
dưỡng chất trắng dị sắc ( metachromatic leucodystrophie ) là bệnh di truyền lặn
trên nhiễm sắc thể thường, biểu hiện sa sút trí tuệ, nói khó, có hội chứng tháp
và rối loạn cơ vòng. Có các biến đổi điện của thương tổn thần kinh ngoại biên.
Điện não đồ lan tỏa sóng bệnh lý, dịch não tủy tăng nhẹ Protein. Trên CT thấy
những ổ giảm tín hiệu trong chất trắng.
Adrenoleucodystrophie ( đã trình bày trong sinh hoạt kỳ trước )
Bệnh
của Alexander là bệnh liên quan tới thiếu hụt mội enxyme astrocytaire đưa đến
tăng trữ các sợi đệm và mất myeline thứ phát. Trẻ chậm nhận thức, có triệu chứng
tháp kèm một não lớn.
Bệnh
của Van Bogaert và Bertrand : trẻ chậm phát triển, vô cảm, đầu to dần, có cơn
động kinh và cuối cùng có hiện tượng mất não. Bệnh có những bất thường trong ty
lạp thể tế bào sao của não.
NHỮNG BỆNH KHÁC CỦA TRỤC THẦN KINH
Viêm
thị thần kinh : Trước một trường hợp viêm thị thần kinh ta phải nghĩ đến XCRRTĐ,
rồi sau đó mới đến các nguyên nhân khác như bệnh lý của dây thần kinh do ngộ
độc, suy dinh dưỡng, di truyền hoặc chèn
ép.
Cần tiến hành nhiều xét nghiệm có liên quan tới XCRRTĐ.
Trước những trường hợp yếu liệt hai chi trên kèm hội chứng tháp 2 chi dưới thì
cần phân biệt với u tủy cổ, hẹo tủy cổ tự nhiên hoặc bệnh lý thoái hóa đĩa, khớp
– dôy sống cổ, u mạch máu, rỗng ống tủy, xơ cứng cột bên teo cơ, bệnh bất thường
của bản lề cột sống cổ và chẩm.
Trước một trường hợp liệt hai chi dưới kèm triệu chứng loạn choạng phải nghĩ đến
bệnh thoái hóa di truyền gai – tiểu não, thoái hóa phối hợp của tủy sống , ép
tủy …
Trước một trường hợp có dấu hiệu tiểu não kèm theo dấu hiệu tổn thương thân não
cần nghĩ đến nguyên nhân một khối u ngoài hoặc trong trục của thân não, một dị
dạng mạch máu não của hố sau.
Trước những trường hợp liệt hai chi dưới cấp cần nghĩ đến viêm tủy cấp nhiễm
trùng, nhũn tủy, áp xe quanh màng cứng, bệnh tủy do máu, di căn chèn ép mạch máu
tủy, bệnh lý tủy của hội chứng cận ung thư.
ĐIỀU TRỊ VÀ
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
Do
triệu chứng tản mạn và sự tiến triển rất thất thường trước từng trường hợp nên
việc điều trị và thái độ xử trí rất khó trước khi có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán
xácc định hoặc chẩn đoán có khả năng. Điều trị dựa trên vấn đề viêm nhiễm và
miễn dịch.
Những Corticoide :
Thuốc có tác dụng rút ngắn thời gian cùa các đợt bùng phát bệnh, nhưng nó khó
xác định được tác dụng đối với sự trầm trọng của triệu chứng thuốc cũng không
thể được dùng để đề phòng sự tái phát.
Điều
trị đợt bùng phát : gồm ACTH hoặc Corticoide.
ACTH
0,5 – 1mg tiêm bắp tuần 3 lần trong 6 tuần hoặc Synacthène 1mg/ ngày pha trong
250 ml Glucose 5% truyền TM, điều trị trong 10 ngày, tiếp theo dùng Synacthène
chậm 1mg tiêm bắp tuần 2 lần trong 2 tuần và tuần 1 lần trong 4 tuần kế.
Methylprednisolon 1g truyền TM mỗi ngày trong 7 đến 10 ngày, tiếp theo dùng
đường uống 60mg mỗi ngày trong 4 ngày, sau đó giảm còn 40mg, 20mg, 10mg và 5mg
trong mỗi 4 ngày, cuối cùng 5mg uống cách ngày. Nên dùng thêm Calci 650mg ngày.
Các
thuốc ức chế miễn dịch :
Azathioprine (Imurel ) 50mg là thuốc hay được dùng với liều từ 2 – 3 mg/ Kg/
ngày. Có tác giả chỉ dùng 10-150mg/ ngày trong nhiều năm. Thuốc có tác dụng phụ
trên cơ quan tạo máu, cần kiểm tra công thức máu mỗi tháng và nếu bạch cầu giảm
dưới 4.000/mm3 cần giảm liều.
Cyclophosphamide ( Andoxan ) dùng cho những trường hợp tiến triển cấp, hoặc
những trường hợp đã không đáp ứng với các liệu pháp thông thường. Truyền tĩnh
mạch 400-500 mg ngày trong 14 ngày, truyền ngắt quảng 4 lần, dùng phối hợp với
ACTH.
Tác
giả Bornstein và cộng sự mới báo cáo kết quả dùng Copolymer I đây là loại thuốc
mới đang ở giai đoạn thử nghiệm chưa được cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc Hoa
Kỳ cho phép.
Interferon :
Đây
là phương pháp điều trị mới nhất, được tiến hành thử nghiệm gần 10 năm nay.
Interferon Béta-1b được dùng cho các trường hợp XCRR tiến triển bởi các đợt bùng
phát. Thuốc chỉ làm giảm tần số cơn bùng phát.
Thuốc đóng gói dạng bột 0,25mg Interferon B-1b8MUI/ml. Liều 1mg tiêm dưới da
trong 2 ngày. Dùng tiếp 3 đợt điều trị bằng ACTH trong 1 năm.
Tách
huyết tương liệu pháp :
Chỉ
định cho những trường hợp tiến triễn mãn tính không đáp ứng với các thuốc thông
thường. Phương pháp này nên phối hợp với liều nhỏ Cyclophosphamide và
corticoide.
Oxy
cao áp liệu pháp : điều trị trong 20 ngày, kết quả cải thiện ở mức có khả năng.
ĐIỀU
TRỊ TRIỆU CHỨNG :
Điều
trị các trường hợp co cứng bằng Liorésal viên 10mg, tối đa 30mg ngày; và những
thuốc dãn cơ khác.
Nếu
có co giật, điều trị như những trường hợp cắt cơn với các thuốc chống động kinh.
Tùy
từng trường hợp có thể dùng các thuốc về tâm thần thích hợp như các loại thuốc
chống trầm cảm…
Săn
sóc đường niệu, tùy từng triệu chứng :
Bí
tiểu là một trong những triệu chứng thường phải cấp cứu vì bệnh nhân đau đớn với
bàng quang căng quá thể tích. Phenoxybenzamine có tác dụng giãn cơ vòng cổ bàng
quang.
Trường hợp cơ co bóp bàng quang ( detrussor ) quá nhạy cảm do bị kích thích có
thể dùng Oxybutynin.
Với
trường hợp mất trương lực bàng quang, dễ nhiễm trùng, nhiều tác giả ưa dùng biện
pháp toan hóa nước tiểu bằng cách dùng Vitamine C, Methelamine mandelate.
BÀN LUẬN
Trong công tác điều trị chúng ta gặp bệnh nhân xơ cứng rải rác từng đám
với mức độ không hiếm. Nhưng khó khăn trước đây gặp phải trong chẩn đoán là :
1.-
IgG trong dịch não tủy cho đến nay chưa thực hiện được. Tuy đã được quan tâm về
kỹ thuật từ năm 1980.
2.-
Điện thế kích thích : Nay chúng ta đã có trong tầm tay về người và phương tiện
kỹ thuật.
Một
thuận lợi cho chẩn đoán là chúng ta đã có máy cộng hưởng từ tiêu chuẩn 1 Tesla
đủ khả năng cho các hình ảnh cần thiết.
Như
vậy về cận lâm sàng ta thiếu phương pháp đo IgG trong dịch não tủy, là một tiêu
chuẩn chẩn đoán của Poser. Nhưng phương pháp này cũng chỉ đạt được 60% - 70%
trường hợp.
Trong khi đó MRI cho ta hình ảnh điển hình, độ tin cậy cũng không cao như đã nói
ở trên. Tuy phương pháp này chưa đưa vào tiêu chuẩn quốc tế. Chúng tôi có dự
kiến đưa ra đề nghị một tiêu chuẩn chẩn đoán cho phù hợp với hoàn cảnh lúc này
là : lần bùng phát, lâm sàng, điện thế kích thích, MRI tham gia vào các yếu tố
chẩn đoán, tạm thời không dùng tới IgG ngõ hầu giúp ta có được chẩn đoán khả
thi.
Đề
nghị :
|
Cơn
bùng phát |
|
|
1 |
1 vị
trí LS + 1 vị trí đo ĐTKT khác + MRI
|
|
1 |
2 vị
trí LS khác nhau + MRI
|
|
2
|
1 vị
trí LS hoặc 1 vị trí CLS + MRI
|
|
2 |
2 vị
trí LS khác nhau ( nếu có MRI thì chẩn đoán càng tốt hơn. |
|
2
|
1 vị
trí LS + 1 vị trí CLS khác ( hoặc MRI tại 1 vị trí khác ) |
Tham
khảo tiêu chuẩn MRI tai phần chẩn đóan hình ảnh (cập nhật 2.2005)
|