|
Lượt truy cập:
|
CÁC BỆNH DO NHỮNG TÁC NHÂN TRUYỀN ĐƯỢC KHÔNG THEO QUY ƯỚC (PRION DISEASES) Lê Văn Thành Summary: The non-conventional transmissible agents were named ‘prion’ by Stanley and Prusiner.This is an auto-developed protein which is devoid of AND and ARN, and can form a contagious agent by itself. There are two types of Prion Protein (PrP): the pathogenic (PrP Sc) and the non-pathogenic (PrP c) ones. PrP-c normally lies on the surface of neuroglia, while recent studies found that it was present also in synapses. Pathogenic prion protein attributably derived from a normal cell through o process of necessarily structural channging. PrP Sc has a molecular weight of 33 to 36 kD and prosess an anti-protease property. Human prion diseases include: Creutzfeldt – Jacob disease (CJD) Gerstmann – Straussler – Scheinker syndrome Fatal familial insomnia Amyotrophy, recently studied and proposed Những tác nhân truyền được không theo quy ước được Stanley và Prussiner đặt tên là prion, là một protein (PrP) tự phát triển không có cấu trúc AND hoặc ARN. Tự mình nó có thể tạo thành một tác nhân gây nhiễm. Có hai loại prion là loại gây bệnh (PrP Sc) và loại không gây bệnh (PrP c). PrPc thường nằm trên bề mặt các tế bào thần kinh đệm, nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy nó cũng hiện diện ở các synapse. Prion gây bệnh được cho là do sao chép chuyển đổi từ một tế bào bình thường thông qua một quy trình phiên bản cần thiết về biến đổi cấu trúc, nó có trọng lượng phân tử là 33 đến 36 kD và có đặc tính kháng men protease. Các bệnh do prion gồm: - Bệnh Creutzfeldt – Jacob (B CJ) - Hội chứng Gerstmann-Strauller-Scheiker (HC GSS) - Chứng không ngủ gây tử vong - Gần đây người ta nghiên cứu thêm ở chứng teo cơ BỆNH CREUTZFELDT – JACOB (BCJ) Bệnh có ở tất cả các quốc gia, không hạn chế địa dư, vấn đề là ở chỗ cơ sở y tế của từng quốc gia hay địa phương có đủ phương tiện chẩn đoán hay không. Ở một số nước phát triển tỷ lệ mới mắc trung bình 1 –2 người trên một triệu dân, nhưng gần đây bệnh xuất hiện nhiều hơn đồng thời với sự có mặt bò điên tại một số nước, trong đó Vương quốc Anh chiếm đa số. Tuổi mắc bệnh trung bình là 50 – 60. 15% có tính di truyền ôtôsom (autosome) trội. Kiểu cách mắc bệnh chưa rõ nhưng một số trường hợp phát bệnh 10 – 15 năm sau khi được ghép giác mạc, hoặc ghép màng cứng não, tủy… Thương tổn mô học: tổn thương rải rác nhiều nơi trên hệ thần kinh, nhiều nhất là vỏ não, thể vân, đồi thị, tiểu não, và hiếm thấy ở sừng trước tủy sống. Gồm hai quá trình: phì đại bào tương trong các tế bào làm cho tế bào phồng to. Tăng sản sao bào và các tế bào đệm tạo nên các chất nhầy từ đó tạo thành các tổ chức xốp. Lâm sàng: Khởi đầu bằng những triệu chứng mệt mỏi, thay đổi tính tình, sa sút trí tuệ, xuất hiện những vận động bất thường như giật cơ (myoclonie) rải rác không đồng thời, có triệu chứng tháp nhưng ít gặp; có thể có triệu chứng thất điều tiểu não. Cảm giác sâu có khi chỉ ở một bên thân, hoặc ở hai chi dưới. Bệnh tiến triển nặng dần với những cơn co giật ngày một nhiều, dẫn đến hôn mê và nằm tư thế mất vỏ. Bệnh nhân thường tử vong trong vòng một năm, hiếm trường hợp kéo dài được 18 tháng. Chẩn đoán: - Lâm sàng rối loạn tính tình hành vi, trí nhớ, có giật cơ rải rác, rối loạn vận động kiểu ngoại tháp, co giật toàn thân đi vào hôn mê. - Điện não đồ có một hoạt động đặc biệt là phức hợp gai sóng nhọn chậm – sóng chậm, xuất hiện đồng thời trên tất cả các kênh một cách nhịp nhàng. - Cộng hưởng từ - Dịch não tủy phân tích tìm 14-3-3 beta protein. - Xét nghiệm miễn dịch tế bào tìm protease kháng PrP hoặc bằng phương pháp Western blot, tìm sự đột biến của gene PrP. Trong nghiên cứu của mình Steven Collins, Allison Boyd và cộng sự, trên bệnh nhân 84 tuổi đã phát hiện được một đơn đột biến mới bao gồm Adenine tới Guanine thay thế tại nucleotide 611, nguyên nhân Alanine thế chỗ Threonine tại mã 188. Những Biến Thể Bệnh Creutzfeldt – JacobCuối tháng 12 năm 1998 các tác giả Will RG, Zeidler M, Stewart GE và cộng sự đã thống kê được 35 trường hợp tử vong được coi là một dạng biến thể mới của bệnh CJ: 15 nam, 20 nữ; thời gian của bệnh trung bình 14 tháng (từ 8 – 38 tháng); tuổi trung bình 29 (18 – 53 tuổi). Gần như tất cả đều có nhựng triệu chứng tâm thần. Các triệu chứng này xuất hiện sau các triệu chứng loạng choạng kiểu tiểu não, các rối loạn vận động ngoài ý muốn, rối loạn nhận thức. Điện não đồ không điển hình như xuất hiện đồng thời thành nhịp đều đặn phức hợp sóng nhọn – sóng chậm như ta thường thấy. Gần một nửa số này được tiến hành làm test thấy dương tính với 14-3-3 protein miễn dịch, và hơn 70% có hình ảnh tăng tín hiệu của Pulvinar 2 bên trong cộng hưởng từ. Phân tích gene PrP cho thấy tất cả các trường hợp đều có đồng hợp với Methionine tại mã 129. Bệnh CJ Mắc PhảiNguyên nhân do thuốc, do các phương pháp điều trị gây ra (iatrogene) như ghép giác mạc của người cho, ghép màng cứng não hoặc tủy sống, một số trường hợp do các dụng cụ phẫu thuật thần kinh. Những năm gần đây tại Pháp và một số nước châu Aâu dùng hormone tăng trưởng của tuyến yên để điều trị, sau từ 10 đến 30 năm một số bệnh nhân có các triệu chứng của bệnh CJ. Các tác giả Slovac báo cáo 32 trường hợp áp dụng phương pháp này ở 23 nam, 9 nữ, một thời gian dài sau đó có triệu chứng của bệnh CJ, xét nghiệm thấy sự đột biến của mã 200 (E200K) và tính đa hình tại mã 129 của gene PrP, kết quả: 1 bệnh nhân có đột biến tại mã 200 8 bệnh nhân có đồng hợp tử của Methionine 2 bệnh nhân có đồng hợp tử của Valine 16 bệnh nhân có dị hợp tử tại mã 129
HỘI CHỨNG GERSTMANN STRAULLER SCHEINKER (HC GSS) Bệnh có tính gia đình, xuất hiện ở người trưởng thành với các triệu chứng thiểu nói, khó phát âm kiểu tiểu não, loạng choạng, có thể có triệu chứng tháp, sa sút trí tuệ, bệnh kéo dài không quá vài năm sau đó tử vong. Tổn thương bệnh lý rất giống bệnh CJ, chỉ khác ở chỗ tồn tại các mảng thoái hóa thần kinh dạng bột, là một mảng mang tính trung gian giữa bệnh Alzheimer và bệnh Kuru.
CHỨNG MẤT NGỦ DẪN ĐẾN TỬ VONG CÓ TÍNH GIA ĐÌNH Một gia đình Tây Ban Nha gồm mẹ và hai người con gái cùng có triệu chứng mất ngủ giống nhau, bệnh kéo dài từ 5 đến 10 tháng và tử vong. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy, ở người mẹ sinh thiết thùy trán chỉ thấy hình ảnh không có ý nghĩa của tổ chức xốp, trong khi đó các tiêu bản của hai người con đều thấy được sự thoái hóa thần kinh dạng xốp tại đồi thị, nhân trám. Các xét nghiệm di truyền chỉ thực hiện hai loại prion cần truy cứu, đó là Prion Protein 178Asn đột biến và đồng hợp tử 129 met/met kiểu gen.
CHỨNG TEO CƠ (AMYOTROPHY) TRONG BỆNH PRION Bradford B, Lewis P và cộng sự tập hợp các báp cáp của nhiều tác giả về bệnh CJ, một số các trường hợp có chứng teo cơ, giật sợi cơ, và số ít có kèm theo triệu chứng tháp, một bệnh cảnh của xơ cứng cột bên teo cơ (ALS). 15 năm trước người ta vẫn nghĩ ALS là do virus gây ra, nói như vậy không có nghĩa tất cả các trường hợp ALS đều là do bệnh Prion gây ra, mà nó chỉ chiếm khoảng 10% trong các bệnh do Prion mà thôi. 27 trường hợp đều được chứng minh bằng lâm sàng, điện cơ đồ, kết quả cơ thể bệnh chứng minh có sự thoái hóa thần kinh dạng xốp tại đầu sừng trước tủy sống. Các xét nghiệm miễn dịch tế bào tìm thấy PrP kháng protease, hoặc tìm thấy sự đột biến trong gen PrP. 27 trường hợp có chứng teo cơ được tìm thấy: 13 trường hợp gặp trong bệnh CJ phát tán 02 trường hợp gặp trong bệnh CJ gia đình 12 trường hợp gặp trong hội chứng GSS Các tác giả khuyến cáo nếu các trường hợp xơ cứng cột bên teo cơ có kèm theo các triệu chứng rối loạn tinh thần, sa sút nhận thức tiến triển nhanh cần chú ý tới căn nguyên do Prion gây nên. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bradford B. Worral, Lewis P. Rowland, và cộng sự. Amyotrophy in prion diseases. Arch. Neurol. 2000, 57:33-38. 2. Steven Collins, MD, FARCP; Alison Boyd, DipGenCouns và cộng sự. Novel Prion Protein Gene Mutation in an Octogenarian with Creutzfeldt-Jacob disease. 3. Katsumi Doh-ura, MD, Jun Tateishi, MD, Tetsuyuki Kiramoro,MD và cộng sự. Creutzfeldt-Jacob Disease Patients with Congophilic Kuru plaques have the Missense Variant Prion Protein common to Gerstmann – Straussler Syndrome. Ann. Neurol. 1990; 27:121-126. 4. Burk Jubert and Jame R. Miller. Viral infection, Merrit’s Textbook of Neurology, ninth edition 1995:169-173. 5. Roger Bill. Neurologie pour le praticien SIMEP 1989 Paris. Maladie de Creutzfeldt – Jacob 144,321. Mitrova E, Belay. Creutzfeldt – Jacob disease risk in Slovak recipients of human pituitary growth hormone. Bratisl Lek Listy 1999 Apri 100 (4):187-191. |
|
Thiết kế và quản trị: BS Nguyễn Bá ThắngMọi thắc mắc, góp ý về trang web này, xin gửi về thankinhhcm@gmail.comCập nhật: 02-07-2009
|