Đóng

PHÂN LOẠI QUỐC TẾ VỀ ĐAU ĐẦU BẢN III

PHÂN LOẠI QUỐC TẾ VỀ ĐAU ĐẦU BẢN III

International Classification of Headache Disorders (ICHD-3)

Nối tiếp bản Beta năm 2014, bản chính thức vừa được công bố trên tạp chí Cephalalgia. 2018; 38 (3rd edition): 1-211. Bản mới gồm nhiều thay đổi cập nhật có giá trị ứng dụng cao.

Tính tổ chức cao thể hiện ở 5 cấp độ chẩn đoán phù hợp với từng tình huống lâm sàng. Cấp độ 1 như 1. Migrain; 2. Đau đầu dạng căng thẳng; 3. Đau đầu tự chủ thần kinh sinh ba, cấp độ 2 như 1.1 đau đầu migrain không aura; 8.2 đau đầu lạm dụng thuốc phù hợp với thực hành lâm sàng chung. Các trung tâm chuyên khoa có thể chẩn đoán đến cấp 4 và 5 (1.2.3.1.1 Migrain liệt nửa người có tính gia đình type I)

Nhiều cập nhật nội dung. Tiêu chuẩn chẩn đoán mới cho đau đầu migrain có aura giúp phân biệt tốt hơn với cơn thoáng thiếu máu não. Đặc điểm nhấn mạnh gồm khởi phát từ từ, xuất hiện lần lượt (nếu nhiều aura). Migrain mạn tính được xếp loại chính thức thay vì phụ lục như bản beta. Xuất hiện mới phân loại đau đầu do rối loạn mạch máu vùng đầu-cổ. Phân loại mới thừa nhận đau đầu do bóc tách và đau đầu do nhồi máu não có thể cấp tính (6.1.1.1) và dai dẳng (trên 3 tháng, 6.1.1.2). Đau đầu do lạm dụng thuốc, một dạng bệnh lý do thầy thuốc quan trọng ảnh hưởng đến 2% dân số được đơn giản hóa tiêu chuẩn chẩn đoán trong phân loại ICHD-3, với việc lược bỏ quan hệ thời gian giữa việc dùng thuốc và đau dầu. Với bệnh nhân dùng nhiều thuốc có mã 8.2.6 đau đầu do lạm dụng nhiều thuốc nhưng không đủ tiêu chuẩn lạm dụng từng loại hay mã 8.2.7 đau đầu do lạm dụng nhiều thuốc chưa rõ loại.

Đau đầu nguyên phát hay thứ phát, xếp loại 10. đau đầu do rối loạn cân bằng nội môi! Nếu một đau đầu mới xuất hiện trong tương quan gần về thời gian với rối loạn nội môi, đau đầu được xếp đau thứ phát. Còn trường hợp bệnh nhân có tiền sử đau đầu với đặc điểm đau nguyên phát trở nên mạn tính hay nặng hơn (tăng ít nhất gấp đôi tần suất hay độ nặng) khi xuất hiện rối loạn cân bằng nội môi, xếp loại 10 được xem xét.

Link bài báo gốc: Cephalalgia. 2018; 38 (3rd edition): 1-211

Thời sự y khoa Related